LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Thuế là một trong những yếu tố quan trọng trong quản lý thu nhập quốc dân, đặc biệt là ở các quốc gia phát triển, và thuế đã đóng một vai trò quan trọng trong các xã hội kể từ khi chúng ra đời cách đây hàng nghìn năm (Lymer và Oats, 2009). Thuế là công cụ quan trọng để chính phủ các quốc gia điều tiết nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy đ u tƣ, kiềm chế lạm phát, phân phối lại của cải, thu nhập trong xã hội. Ngày nay vai trò của chính phủ tại các quốc gia ngày càng tăng lên và họ phải thu thuế nhiều hơn để tài trợ cho các hoạt động của mình.
Mặc dù vậy, chính phủ của các quốc gia đang gặp phải những khó khăn nhất định trong việc thu thuế vì nhiều lý do khác nhau. Một trong những lý do chính phải nhắc đến, đó là hành vi không tuân thủ thuế của ngƣời nộp thuế. Tuân thủ thuế là mức độ ngƣời nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế đƣợc quy định trong luật thuế (James và Alley, 1999), ngƣời nộp thuế nộp tờ khai thuế vào thời điểm thích hợp và thực hiện đ y đủ nghĩa vụ thuế theo quy định của luật thuế (Hamm, 1995). Trong đó, tuân thủ thuế tự nguyện là việc trả tiền thuế chính xác, đ y đủ và đúng thời hạn mà không c n những nỗ lực ép buộc của chính phủ (Kirchler và cộng sự, 2008).
Để hệ thống tự nguyện hoạt động hiệu quả thì ngƣời nộp thuế phải có niềm tin rằng thuế đƣợc đánh công bằng và mọi ngƣời đều trả ph n của mình. Khi đó, họ sẽ tự nguyện tuân thủ bởi họ cảm thấy bắt buộc phải làm nhƣ vậy khi là thành viên của cộng đồng (Kirchler và cộng sự, 2008). Thực tế cho thấy, cũng giống nhƣ ở một số quốc gia đang phát triển khác, hành vi không tuân thủ thuế của ngƣời nộp thuế luôn là một thách thức đối với chính phủ, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam bởi nó chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau. Ở Việt Nam, hiện tƣợng vi phạm pháp luật thuế trong những năm g n đây vẫn đang diễn ra khá phổ biến ở h u hết các sắc thuế.
Hành vi gian lận thuế ngày càng diễn biến phức tạp, phạm vi ngày càng rộng, quy mô ngày càng lớn và thủ đoạn ngày càng tinh vi. Để khắc phục vấn đề này, Chính 1 phủ Việt Nam đã đƣa ra nhiều biện pháp nhằm hạn chế hành vi không tuân thủ thuế cũng nhƣ nâng cao sự hiểu biết, nhận thức của ngƣời dân về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc chấp hành pháp luật thuế, qua đó, giúp Chính phủ cải thiện nguồn thu công để thực hiện các chức năng quản lý nhà nƣớc nhằm ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Điều này đã đƣợc cụ thể hóa trong chiến lƣợc tài chính đến năm 2030 đã đƣợc Chính phủ phê duyệt, theo đó để đảm bảo nguồn lực tài chính ngân sách góp ph n thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 – 2030, mục tiêu tỷ lệ huy động vào NSNN từ thuế, phí giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 13 - 14% GDP và giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 14 - 15% GDP (Chính phủ, 2022). Mặc dù vậy, trong thời gian qua với đặc trƣng là một quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi, hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng đang d n hoàn thiện để đáp ứng với yêu c u hội nhập.
Chính vì vậy, hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam thƣờng xuyên có những sửa đổi, bổ sung và chủ yếu tập trung vào việc thực thi pháp luật nhƣ một biện pháp khắc phục để đảm bảo hệ thống thuế hoạt động bình thƣờng. Điều này dẫn đến hành vi tuân thủ thuế tự nguyện chƣa đƣợc nhiều ngƣời nộp thuế ủng hộ và dƣờng nhƣ họ đang gặp phải những khó khăn nhất định trong việc thực thi chính sách, pháp luật thuế vì kiến thức về thuế còn hạn chế, thƣờng xuyên phải cập nhập quá nhiều các thay đổi pháp lý, cơ quan thuế vẫn dùng mệnh lệnh hành chính để áp đặt, đối xử chƣa công bằng với ngƣời nộp thuế…Vấn đề này dẫn đến thực tế rằng, mức độ tuân thủ thuế của ngƣời nộp thuế ở Việt Nam vẫn còn chƣa cao. Đây có thể đƣợc coi là một trong những khó khăn, thách thức từ những hạn chế nội tại của cơ chế, chính sách chƣa đƣợc các cơ quan quản lý, các nhà hoạch định chính sách giải quyết một cách triệt để. Do vậy, vấn đề đặt ra đối với Chính phủ, các cơ quan quản lý, các nhà hoạch định chính sách là làm thế nào để ngƣời nộp thuế tuân thủ trên cơ sở tự nguyện mà không c n phải dùng các biện pháp bắt buộc.
Để giải quyết đƣợc vấn đề này, Chính phủ Việt Nam c n hoàn thiện thể chế quản lý thuế 2 đảm bảo đồng bộ, công khai, minh bạch, công bằng trong quản lý thuế, tạo điều kiện thuận lợi để ngƣời nộp thuế tuân thủ tự nguyện, đồng thời c n cụ thể hoá các chƣơng trình hành động thông qua việc cải cách các thủ tục hành chính để tăng mức độ hài lòng, tạo niềm tin của ngƣời nộp thuế và nâng cao tinh th n thuế của ngƣời dân. Mặc dù mức độ tuân thủ thuế của ngƣời nộp thuế ở Việt Nam vẫn chƣa đƣợc cao nhƣng số thu NSNN vẫn đạt kết quả đáng ghi nhận, tổng thu NSNN năm 2020 của Việt Nam là 1. Tại tỉnh Hƣng Yên, năm 2020 tổng thu NSNN trên địa bàn tỉnh là 16.250 tỷ đồng, đạt 109,3% kế hoạch, tăng 1,27% (UBND tỉnh Hƣng Yên, 2020a) và nguồn thu chủ yếu là từ thuế và phí. Tuy nhiên, vẫn còn một số khoản thu, sắc thuế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN không hoàn thành theo kế hoạch (UBND tỉnh Hƣng Yên, 2020b).
Bên cạnh đó, thực tế hiện nay trên địa bàn tỉnh vẫn còn không ít doanh nghiệp chƣa thực hiện đ y đủ nghĩa vụ thuế. Điều này đƣợc thể hiện qua số tiền thuế truy thu và phạt trong các cuộc thanh tra, kiểm tra, cụ thể: tính đến tháng 12/2020, Cục Thuế Hƣng Yên đã thực hiện thanh tra, kiểm tra 625 cuộc, đạt 73,6% kế hoạch và truy thu, truy hoàn đƣợc 41,6 tỷ đồng, xử phạt 13,6 tỷ đồng, giảm lỗ 132,8 tỷ đồng, giảm khấu trừ 15,2 tỷ đồng (Tuan, 2020). Mặt khác, Hƣng Yên là tỉnh nằm trong khu kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên địa bàn có nhiều khu công nghiệp lớn nên số lƣợng doanh nghiệp ngày càng tăng lên. Theo UBND tỉnh Hƣng Yên (2020b), tổng số doanh nghiệp đăng ký hoạt động trên toàn tỉnh là 12.110 doanh nghiệp, trong đó có 72% doanh nghiệp đang hoạt động, số doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 94%.
Qua số liệu trên có thể thấy, số lƣợng các cuộc thanh tra, kiểm tra đã thực hiện vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ so với số lƣợng doanh nghiệp của tỉnh. Do đó, để đảm bảo nguồn thu NSNN đƣợc ổn định và nguồn thu từ thuế đạt đƣợc kết quả cao hơn trong thời gian tới, UBND tỉnh c n tiếp tục hoàn thiện và ban hành các cơ chế, chính sách cũng nhƣ các giải pháp nhằm chống thất thu ngân sách nhà nƣớc; các giải pháp để hỗ trợ, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trên địa 3 bàn tỉnh phát triển theo hƣớng bền vững, qua đó, nuôi dƣỡng và cải thiện nguồn thu ngân sách để đáp ứng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Hƣng Yên. Đồng thời, chỉ đạo các Sở, ban ngành, chính quyền các cấp, các đơn vị có liên quan tăng cƣờng phối hợp với ngành thuế thực hiện các giải pháp quản lý nguồn thu thuế trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên đảm bảo hiệu lực, hiệu quả theo quy định của pháp luật thuế, góp ph n nâng cao tính tuân thủ thuế của các doanh nghiệp và tăng nguồn thu ngân sách. Từ thực tế cho thấy, các vấn đề liên quan đến hành vi tuân thủ thuế của ngƣời nộp thuế luôn là bài toán nan giải đối với các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý thuế bởi nó chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau.
Do vậy, để nhận diện những nhân tố ảnh hƣởng đến tính tuân thủ thuế của ngƣời nộp thuế, nghiên cứu này tiến hành phân tích thực nghiệm để kiểm tra các nhân tố ảnh hƣởng đến tính tuân thủ thuế của ngƣời nộp thuế/các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên. Kết quả nghiên cứu này sẽ cung cấp minh chứng về mức độ tác động của từng nhân tố đến tính tuân thủ thuế, qua đó, nhóm tác giả đƣa ra một số hàm ý, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính tuân thủ thuế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên, các giải pháp khác và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế. Xuất phát từ những phân tích và nhận định nêu trên, đồng thời phù hợp với chiến lƣợc tài chính đến năm 2030, chiến lƣợc cải cách hệ thống thuế đến năm 2030. Với kỳ vọng có thể đóng góp luận cứ khoa học về các nhân tố ảnh hƣởng đến tính tuân thủ thuế của các DNVVN nói chung, DNVVN tại Hƣng Yên nói riêng cũng nhƣ những đóng góp nhất định nhằm giúp UBND tỉnh Hƣng Yên, Cục Thuế, các Sở, ban ngành, chính quyền các cấp, các đơn vị có liên quan có các giải pháp nhằm nâng cao tính tuân thủ thuế của NNT, chống thất thu ngân sách nhà nƣớc, qua đó, giúp cải thiện nguồn thu ngân sách để đáp ứng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Hƣng Yên trong thời gian tới.
Chính vì vậy, nhóm tác giả cho rằng việc tiến hành nghiên cứu “Nghiên cứu đề xuất các giải 4 pháp nâng cao tính tuân thủ thuế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên” là rất c n thiết, vừa có ý nghĩa về lý luận và vừa phù hợp với thực tiễn về công tác quản lý thuế trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về thuế, tuân thủ thuế và mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hƣởng với tính tuân thủ thuế của các DNVVN, khám phá và đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến tính tuân thủ thuế của các DNVVN. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao tính tuân thủ thuế của các DNVVN, và một số và kiến nghị, giải pháp khác nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý thuế trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên.