Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5.
Kết luận và kiến nghị. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 2. Một số khái niệm cơ bản 2.
Huy động Huy động là “quá trình hình thành đám đông, nhóm, assiciations, và tổ chức cho việc theo đuổi các mục tiêu tập thể”. Như vậy, “huy động” là điều nhân lực, của cải cho một công việc lớn; Huy động nguồn lực, kinh phí cho công trình. Phương thức huy động: Bằng tiền, hiện vật, ngày công lao động, trí tuệ. Nguyên tắc huy động: Huy động được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ bàn bạc, công khai minh bạch và quyết định theo đa số (Phạm Thị Hiệp, 2014).
Nguồn lực Theo Ngô Doãn Vịnh (2010), Trong những năm vừa qua, khi bàn về các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế, bao giờ người ta cũng bàn tới hai vấn đề cơ bản là nguồn lực và động lực phát triển. Cho đến nay, về hai vấn đề này cũng còn nhiều điểm, khía cạnh phải bàn thêm cho rõ. Về nguồn lực, quan niệm thế nào là nguồn lực, làm thế nào huy động được nguồn lực và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực? Nhìn chung đến nay chúng ta chưa nhận thức đầy đủ về nguồn lực, mới nói chung mà chưa hướng tới định lượng, không chỉ rõ chủ thể của nguồn lực. Nhìn nhận về nguồn lực chưa nhất quán và thiếu cách nhìn định lượng.
Việc lãng phí nguồn lực cũng chưa được xem xét đúng mức. Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển. Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem là nguồn lực. Các nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ: Người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng xử với chúng thích hợp.
Với cách nhận thức như thế và trên quan điểm thiết thực, việc phân chia các nguồn lực được tiến hành theo hai cách chủ yếu: * Cách thứ nhất, người ta chia ra thành nhóm nguồn lực vật chất và nguồn lực con người. 5 Nhóm nguồn lực vật chất gồm có: tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thuỷ điện, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, vị trí địa kinh tế,.) và cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng (nhà cửa, công trình công cộng, đường sá, hải cảng, sân bay, hệ thống sản xuất và truyền tải điện, hệ thống cung cấp và thoát nước, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống viễn thông và truyền thông. Nhóm nguồn lực con người (gắn với tài nguyên trí thức) và tài nguyên thông tin. Trí tuệ của con người có giá trị đặc biệt và không thể tự có được mà con người phải mất công, mất sức mới có.
Muốn có trí tuệ, con người phải có thể lực và trí lực cùng hoàn cảnh thuận lợi. Đối với vấn đề xây dựng trí tuệ, việc giáo dục quan trọng như thế nào thì việc cải tạo nòi giống cũng quan trọng không kém. Trong lĩnh vực xây dựng nguồn lực con người, không thể xem nhẹ việc bồi dưỡng sức dân. * Cách thứ hai, căn cứ vào nguồn gốc của các nguồn lực để phân loại.
Người ta chia chúng ra thành hai nhóm lớn: nguồn lực trong nước và nguồn lực ngoài nước. Nguồn lực trong nước bao giờ cũng giữ vai trò quyết định. Bằng cơ chế, chính sách, người ta tạo ra môi trường hấp dẫn để thu hút các nguồn lực bên ngoài, nhất là thu hút nhân tài. Thông qua cơ chế, chính sách, nhà nước và các doanh nghiệp có thể biến ngoại lực thành nội lực.
Phần lớn các nguồn lực đều hữu hạn. Vì thế, việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực và dự trữ các nguồn lực trong điều kiện có thể là một trong những quốc sách quan trọng. * Cách phân loại khác: căn cứ vào các nguồn hình thành người ta có thể chia nguồn lực thành nguồn lực ngân sách Nhà nước, nguồn lực vốn tín dụng, nguồn lực của doanh nghiệp đầu tư hỗ trợ, nguồn lực của cộng đồng nhân dân (Thủ tướng Chính phủ, 2010). Huy động nguồn lực Huy động nguồn lực chính là lý thuyết xã hội học trong việc nghiên cứu các phong trào xã hội mà nổi lên trong những năm 1970.
Nó nhấn mạnh đến khả năng của các thành viên của phong trào để có được nguồn tài nguyên và huy động người dân đối với việc hoàn thành các mục tiêu của phong trào. Huy động nguồn lực là hướng dẫn các nguồn lực, chủ yếu là nội lực, để tăng cường năng lực tổ chức và mang lại lợi ích cho cộng đồng. Mục đích của huy động nguồn lực là làm thế nào để một tổ chức có thể gây quỹ cần thiết để thực hiện sứ mệnh của mình? Các nguồn lực cần có đang ở 6 đâu? Làm thế nào để bạn có thể duy trì tổ chức và công việc của mình? Đó là những câu hỏi chính mà các tổ chức phải đối mặt khi họ phải xem xét làm thế nào để duy trì công việc của họ và tăng cường tính bền vững của tổ chức. Việc xây dựng một kế hoạch hoặc một chiến lược huy động nguồn lực có thể dẫn đến các nỗ lực sáng tạo trong việc sử dụng các tài sản của chính bạn để đạt được sự ủng hộ cho tổ chức của bạn.
Các nguồn tài trợ khác nhau có thể làm tăng tính độc lập và linh hoạt để thực hiện các chương trình và giảm thiểu sự phụ thuộc vào các nguồn quỹ bên ngoài (Phạm Thị Hiệp, 2014). Cộng đồng Theo Korten (1987), cho rằng cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có những điểm tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau (dẫn theo Trần Thị Thanh Hà, 2012). “Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau với một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy” (Nguyễn Ngọc Lâm, 2005). “Cộng đồng là tập thể người sống cùng trong một khu vực, một tỉnh hoặc một quốc gia và được xem như một khối thống nhất”; “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm”; “Cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau về một số khía cạnh nào đó” (Lê Thị Mỹ Hiền, 2005).
Kết cấu hạ tầng Theo CIEM (2016), KCHT KT-XH của một xã hội phát triển là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những phương tiện vật chất và thiết chế làm nền tảng cho KT-XH phát triển. KCHT hiểu theo nghĩa rộng bao gồm KCHT kinh tế và KCHT xã hội. Hiểu một cách khái quát, KCHT là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục. KCHT cũng được định nghĩa là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động KT-XH được diễn ra một cách bình thường.
Toàn bộ KCHT có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau. Cụ thể như: 7 + Nếu căn cứ theo lĩnh vực kinh tế- xã hội, thì KCHT có thể được phân chia thành: KCHT phục vụ kinh tế, KCHT phục vụ hoạt động xã hội, và KCHT phục vụ an ninh - quốc phòng. Tuy nhiên, trên thực tế, ít có loại KCHT nào hoàn toàn chỉ phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội và ngược lại. + Nếu căn cứ theo sự phân ngành của nền kinh tế quốc dân, thì KCHT có thể được phân chia thành: KCHT trong công nghiệp, trong nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính - viễn thông, xây dựng, hoạt động tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục, văn hoá - xã hội.
+ Nếu căn cứ theo khu vực dân cư, vùng lãnh thổ, thì KCHT có thể được phân chia thành: KCHT đô thị, KCHT nông thôn; KCHT kinh tế biển (ở những nước có kinh tế biển, và nhất là khi kinh tế biển lớn như ở nước ta), KCHT đồng bằng, trung du, miền núi, vùng trọng điểm phát triển, các thành phố lớn. Như vậy, KCHT là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung, cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục. KCHT cũng được định nghĩa là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động KT-XH diễn ra một cách bình thường (Phạm Thị Huyền Trang, 2015). Nông thôn Theo Hoàng Phê (1994), nông thôn được định nghĩa là "Khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông".
Ngoài ra còn có định nghĩa khác như: Nông thôn là vùng lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND cấp xã (Đặng Kim Sơn, 2008). Định nghĩa này đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT thống nhất quy định tại Thông tư số 54/2009/TT- BNNPTNT ngày 21/8/2009. Khái niệm nông thôn chỉ mang tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian, và theo tiến trình phát triển KT-XH của các quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam chúng ta có thể hiểu "nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân.
Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác" (Tống Văn Chung, 2001). 8 Như vậy KCHT nông thôn là một bộ phận trong tổng thể hệ thống cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân. Hệ thống này được xây dựng trong khu vực nông thôn, trong khu vực sản xuất nông nghiệp và trở thành nền tảng cơ bản để phát triển KT-XH vùng nông thôn. KCHT nông thôn được chia thành hai nhóm: - Các công trình KCHT kinh tế: đây là tổ hợp của các công trình giao thông, thủy lợi, cung cấp vật tư nguyên liệu phục vụ sản xuất.