CHƯƠNG 1 TONG QUAN RUNG NGAP MAN 1. PHAN BO RNM TRE! ‘THE GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.1, Phân bố và diện tích RNM trên thé giới RNM phan bố chủ yếu ở ving xích đạo và nhiệt đới hai bán cầu. Tuy nhién một số loài có thể mở rộng khu phân bổ lên phía bắc tới Bermunda (32°20' Bắc) và Nhật Bản (31°22' Bắc) như Trang (Kandelia obovata), Vet dit (Bruguiera gymnorrhiza), Bang (Rhizophora stylosa), Cóc vàng (Lumnitzera racemosa). Giới hạn phía nam của CNM là New Zealand (38°03" Nam) và phía nam Australia 38°43" Nam), Ở những ving này do khí hậu mùa đông lạnh nên thường chỉ cồn loài Mim biển (Avicennia marina) (Phan Nguyên Hồng, 1999) [11].
Khi nghiên cứu RNM, Tomlinson (1986) [38] phân chia các quần xã RNM làm bai nhóm có thành phần loài cây khác nhau. Nhóm phía đông tương ứng với vùng An Độ-Thái Bình Dương với số loài đa dang và phong phú. Nhóm phía t ‘gdm bờ biển nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ ở cả Đại Tây Dương va Thái Bình Dương. Số loài ở đây ít chỉ bằng 1/9 ở phía Đông (Spalding và c 1997).
Các loài chủ yêu là Buse đỏ (Rhizophora mangle), Mim (Avicennia germinans). Tuy nhiên kích thước của một số loài cây lại lớn hơn nhóm phía Đông, ví dụ như ở Brazin ‘Dude đỏ cao trên 50m và ở Eeuado loài nay cao trên 60m, Nghiên cứu đánh giá về RNM mới đây của FAO, với tiêu để là *I ing ngập. mặn thé giới 1980 ~ 2005", đã cho biết tổng điện tích RNM đã giảm từ 18.8 su ha năm 1980 xuối cd 15,2 triệu ha năm 2005. Tuy nhiên có sự chậm lại trong tỷ Ig mắt RNM: từ khoảng 187.000 ha bị phá huy hing năm trong những năm 1980 thi trong giai đoạn 2000 - 2005 chỉ còn 103.000 ha mỗi năm, điều này đã phan ánh sự nâng cao nhận thức về giá trị của HSTRNM.
Chiu Phi, ắc và Trung Mỹ là những khu vực bị suy giảm đáng kể điện tích RNM với con số mắt mát tương ứng là 690.000 ha rừng trong vòng 25 năm qua. Châu A gánh chịu sự mắt RNM lớn nhất từ năm 1980, với hơn 1,9 triệu ha bị tản phá, chủ yêu do những thay đổi trong việc sử dụng đất đại © cấp quốc gia, Indonesia, Mexico, Madagasca, Pakistan, Papua New Guinea va Panama là những nước có diện tích rừng bị mắt lớn nhất trong những năm 1980, Tổng dign tích rừng bị mắt ở những nước này là khoảng 1 triệu ha tương đương với điệ tích Jamaica, Nhưng trong những năm 1990, Panama và Pakistan đã thành công trong việc giảm tỷ lệ mắt RNM. Ngược lại Madagasca, Malaysia và Việt [Nam lại trải qua thời kỹ phá rừng tăng lên và nằm trong số 5 quốc gia đứng dẫu về điện tích rừng bị mắt trong thập nién 1990 và giai đoạn 2000-2005. FAO cũng cho ring Nigeria, Indonesia, Autnlia, Brazil và Mexico có tổng điện tich RNM chiếm 50% tổng iệntích RNM trên toàn th giới "Những nguyên nhân chính dẫn đến sự tản phá RNM đó là do áp lực dân số sao, sự chuyên đội quy mô lớn điện sch RNM sang nuôi trồng thuỷ sản (NTTS), nông nghiệp, cơ sở hạ tng và du lịch, cũng như ô nhiễm môi trường và các thảm.
hoạ tự nhiên. Nghiên cứu về RNM trên thé giới Từ liu các ngành khoa học đã quan tim nghiễn cứu về đất ngập mặn cũng như RNM trên nhiề lĩnh vực vi những giá tị to lớn về sinh học, sinh tái và kính tế xã hội của vùng ven biển Nghiên cứu v8 giải phẫu, phân loại, phân bổ Lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất là phân loại thực vật, thảm thực vật và. phân b8, Có hai công trình nỗi tiếng là “Mangrove vegetation” của V. Chapman (1975) [31] và “The botany of mangoves” của P.
Tomlinson (1986) [38] đã nghiên cứu về giải phẫu, phân lại, phn bd, sinh thi một số loi cây ngập mn trên tố gi “Nghiên cửu về các nhân tổ nh thái Nghiên cứu các nhân tổ sinh thấi ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển RNM cổ nhiều tác giá để cập đến.J Chapman (1975) [31] có 7 yếu tổ sinh thái cơ bản ảnh hưởng tới sự phát triển của RNM là: nhiệt độ, thé nền đất bùn, độ. mặn, thuỷ tiểu. đồng chảy hãi lưu, sự bio về, biển nông it số công trinh nghiên cứu vé lượng mưa, nhiệt độ ảnh hướng đến sự € sinh trưởng và phất triển của cây ngập mặn.B ‘Tomlinson (1986) [38] cho rằng nhiệt độ là nhân tổ quan trong ảnh hưởng đến sự sinh trướng và phân bổ RNM. Cây ngập mặn sinh trưởng tốt ở môi trường có nhiệt độ ấm, nhiệt độ của tháng lạnh nhất không đưới 20°C, biên độ nhiệt theo ma không vượt quá 10°C, P.Saenger và cộng sự (1983) (Trích din ti liệu Nguyễn Hoàng Trí, 1999 [26) đã giải thích sự có mặt của RNM ở một vũng nào đó tuỷ thuộc vio nhiệt độ không khí và nh độ nước, AN.
Rao (1986) [35] nhận định ring trong các nhn tổ hậu thi lượng mưa là nhân tổ quan trọng với vai trổ cung cắp nguồn nước ngọi cho cây ngập mặn tăng trưởng và phát tiển tốt nhất ở nơi có lượng mưa đầy đã “rong các nhân sinh thái thì độ mặn là nhân tổ quan trọng nhất ảnh hưởng tới tăng trường, tỷ lệ sống. phân bổ các loài. De Hann (1931) (Trích dẫn từ Aksornkoae, 1993 [29]) cho rằng RNM tôn tại phát triển ở nơi có độ mặn tir 10- x i và các tác giả đã chia thực vật ngập mặn thành hai nhóm: nhóm phát triển ở đội mặn từ 10-30% và nhóm phát triển ở độ mặn từ 0-10%e Yếu tổ giới hạn sự phân bổ của RNM là sự thiểu vắng muối trong đất và nước Mỗi loi cây ngập mặn chịu dựng một độ mặn nhất định. Khi độ mặn rong đắt tăng và tng bùn giảm thì cây còi cọc, cảnh ngăn, lá nhỏ và diy hơn (A.
Rao, 1986 [35)) Nhiễu nghiên cứu cho thiy, cây ngập mặn có thể ổn được trong nước ngọt một thôi gian nào đó, nhưng sinh trường của cây giảm dần, sau và tháng nếu không được cung áp một lượng muỗi thích hợp thì cây sinh trưởng. có nhiều chấm đen và vàng do s bị phân huỷ, lá sớm rụng. Hầu hết các cây ngập mặn đều sinh trưởng tốt ở môi trường nước có độ mặn từ 25-50% độ mặn nước biển. Khi độ mặn cảng cao thì sinh trưởng của cay cảng kém, sinh khấ củ rễ, thân và bi đều thấp đần, lá sớm ming (Saenger và cộng sự, 1983) (Trích dẫn ti liệu Nguyễn Hoàng Trí, 1999 (26).
Khi nghiên cứu sự sinh trưởng của loài Trang (Kandelia candet) liên quan đến độ mặn của môi trường, PLin và X. Wei (1980) (Trích dẫn tải liệu A. Rao, 1986 [35]) đã nhận thấy chúng phát trién tốt ở nơi có nông độ mudi từ 7. Nhiễu tác giả cho rằng đất là nhân tổ chính giới hạn sự tăng trưởng và phân bồ cây ngập mặn ( Gledhill, 1963; Giglioli và King, 1966; Clark và Hannonn, 1967; S.
Aksomkoae và cộng sự, 1985) (Trích dẫn tả liệu Aksornkoae, 1993 [29)), Dit RNM thường là dit phù sa bồi tụ có độ muỗi cao, thiểu O;, giàu H;S, RNM thấp và cần cỗi trên các bãi lẫy có it phủ sa, nghèo chất dinh dưỡng. Karim và cộng sự cho biết sự phát triển của thực vật ngập mặn liên quan đến lượng phủ sa lắng đọng và cây đạt chiều cao cục đại ở nơi có lớp phủ sa day. Aksomkoae (1993) [29] nghiên cứu đắt ngập mặn ở Thái Lan và A. Karim (1983, 1988) nghiề cứa đắt ngập mặn ở Sundarbans— Banglades là những nơi đất có độ pH từ 6,5 ~ 8; độ mặn của đất từ 3,3 ~ 17,3 %s các tác giả cũng đã chia đắt làm ba loại: loại có độ mặn thấp dưới 5%, loại có độ mặn trung bình từ 5-10%.
và loại có độ mặn cao tên 18a. Trong khi đó, kết quả nghiên cứu tính chất lý hoá đất RNM ở Sudarbans - An Độ của J. Choudhury (1994) [32] cho thấy đất ở ting O-15em có tỷ lệ cắt từ 15,25- 49. Nghiên cứu vỀ sinh trưởng của cây ngập min S.
Soemodiharjo và cộng sự (1996) [37] nghiên cứu. ing trưởng chiều cao vã đường kính thân của loài Đưng được trồng ở Indonesia theo ác tuổi 6,11, l4, 18 và cho biết sự sinh trưởng hing năm tương ứng là 0,7; 0,5; 0,6; 0,6em. Kongsanchai (1984) [34] nghiên cứu sự ting trưởng của Bude đôi tring tại vùng khai thác mỏ thiếc ở các giai đoạn 1.3⁄4,5,6 năm tdi và cây đạt chi cao tương ứng là 071; 0/4; L23; 25; 1.27 và 93m "Nghiên cứu vé trồng, phục hồi rừng ngập man lĩnh vực trồng và phục hỏi RNM đã có rất nhiều các tỏ chị sia như: Chương tinh hợp tức Liên hợp quốc (UNDP), chương trình môi tường Liên hợp quốc (UNEP), tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc 9 (FAO), chương trình nghiên cứu và quản lý HSTRNM khu vực Châu A và Thái Bình Dương của ƯNDP/UNESCO đã cung cấp tải chính cho các tổ chức chuyên môn của các nước để nghiên cứu quản lý RNM, khuyến khích trồng lại rừng. 6 Thái Lan, Đước đôi và Đưng được coi là đối tượng chính để trồng RNM vì ching la những đối tượng cung cấp nguồn nguyên liệu để làm than có chất lượng tốt nhiệt lượng cao.
Đước đôi được trồng bằng hai phương pháp: bằng trụ mằm và bằng cây con trong túi bầu dat tỷ lệ sống trên 80% (Aksomkoea, 1993) [29]. Còn ‘Dung trồng từ trụ mầm có tỷ lệ sống trên 94% (S. Havannond, 1994) [33] 6 Malayxia từ năm 1987-1992 đã trồng được 4.300ha RNM, loài cây chính. được tring ở đây cùng là Đước đôi và Dung, Indonesia trồng bổn loài cây chính đó là Bude đôi, Dude voi, Dung và Vet đủ, Vet di được tring bằng cây con có biu 3-4 thing tuổi: Dude đôi, Dước vôi, Đăng được trồng trực tiếp bằng trụ mim (Socmodihardio va cộng sự 1996) [37] An Độ tập trung trồng 5 loại cây chính: Mim lười đồng, Mim biển, Dude đôi, ưng, Bin chua cũng bằng hai phương pháp trồng rực tiếp từ trụ mim và cây con trong các túi bằu (có kích thước 4em x 10cm).
Các loài Dude đôi, Dung và Mim biển trồng với mật độ 1,5m x 1,5m (G. Untawale, 1996) [39], Pakistan trồng 4 loài: Mim biển, Su, Bung, Da bằng hai phương pháp: củy số bầu và trồng trụ tiếp, Ở Bangladet người a trồng cúc loài Vet den. Bắn và Mim lui đồng trồng bằng cây con trong túi bầu và trồng trực tiếp (NLA. Ở Colombia trồng một loài Dude đỏ bằng phương pháp gieo ươm 25 trụ mimi sau đồ chon các cây con có chiều cao từ 0.5m (do từ mặt đất đến ngọn) rồi đem trồng với mật độ 9 cây/m” (C.
Bohorquerz, 1996) [30] Cho đến nay những nghiên cửu ở nhiều nước đã xác định được phân bổ đặc điểm sinh thi các loài thực vật RNM, da dang của HSTRNM.