Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Trên thế giới Khi nghiên cứu các biện pháp PCCCR người ta chủ yếu hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa: (1) - Giảm nguồn lửa bằng cách tuyên truyền không mang lửa vào rừng, dập tắt tàn than sau khi dùng lửa, thực hiện các biện pháp dọn vật liệu cháy trên mặt đất thành băng, đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách đám cháy với phần rừng còn lại; (2) - Giảm khối lượng vật liệu cháy bằng cách đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn ẩm để giảm khối lượng vật liệu cháy vào thời kỳ khô hạn nhất, hoặc đốt theo hướng ngược với hướng lan tràn của đám cháy để cô lập đám cháy; (3) - Làm giảm khả năng cung cấp ô xy cho đám cháy bằng cách dùng chất dập cháy để ngăn cách vật liệu cháy với ô xy không khí (nước, đất, cát, hoá chất dập cháy v. Các chất dập cháy cũng có tác dụng làm giảm nhiệt độ để làm giảm hoặc ngưng hẳn quá trình cháy.
Những phương tiện PCCCR đã được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây, đặc biệt là phương tiện dự báo, phát hiện đám cháy, thông tin về cháy rừng và phương tiện dập lửa trong các đám cháy. Các phương pháp dự báo đã được mô hình hoá và xây dựng thành những phần mềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của dự báo nguy cơ cháy rừng. Việc ứng dụng ảnh viễn thám và công nghệ GIS đã cho phép phân tích được những diễn biến thời tiết, dự báo nhanh chóng và chính xác khả năng xuất hiện cháy rừng, phát hiện sớm đám cháy trên những vùng rộng lớn. Những thông tin về khả năng xuất hiện cháy rừng, nguy cơ cháy rừng và biện pháp PCCCR hiện nay được truyền qua nhiều kênh khác nhau đến các lực lượng PCCCR và cộng đồng dân cư như hệ thống biển báo, thư tín, đài phát thanh, báo địa phương và Trung ương, vô tuyến truyền hình, các mạng máy tính v.v… c 4 Những phương tiện dập tắt các đám cháy được nghiên cứu theo cả hướng phát triển phương tiện thủ công như cào, cuốc, dao, câu liêm đến các loại phương tiện cơ giới như cưa xăng, máy kéo, máy gạt đất, máy đào rãnh, máy phun nước, máy phun bọt chống cháy, máy thổi gió, máy bay rải chất chống cháy và bom dập lửa v.v… Mặc dù, các phương pháp và phương tiện PCCCR đã được phát triển ở mức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống PCCCR hiện đại như Mỹ, Úc, Nga v.v… Trong nhiều trường hợp việc khống chế các đám cháy vẫn không hiệu quả.
Người ta cho rằng, ngăn chặn nguồn lửa để không xảy ra cháy vẫn là quan trọng nhất [42]. Ở Việt Nam Hiện còn rất ít những nghiên cứu về hiệu lực của các công trình PCCCR cũng như những phương pháp và phương tiện PCCCR. Mặc dù trong các quy phạm PCCCR có đề cập đến những tiêu chuẩn của các công trình PCCCR, những phương pháp và phương tiện PCCCR song phần lớn đều được xây dựng trên cơ sở tham khảo tư liệu của nước ngoài, chưa có khảo nghiệm đầy đủ trong điều kiện Việt Nam [28]. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về biện pháp PCCCR chủ yếu hướng vào thử nghiệm và phân tích hiệu quả của giải pháp đốt trước nhằm giảm khối lượng vật liệu cháy.
Năm 1995, Phan Thanh Ngọ đã thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới rừng thông 8 tuổi ở Đà Lạt. Tác giả cho rằng với rừng thông lớn tuổi không cần phải gom vật liệu trước khi đốt mà chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc về chọn thời tiết thích hợp để đốt. Năm 2001, Bế Minh Châu đã nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện khí tượng đến độ ẩm và khả năng cháy và vật liệu cháy dưới rừng thông. Tác giả đã hoàn thiện phương pháp dự báo cháy rừng ở một số vùng trọng điểm Thông ở miền Bắc Việt Nam.
Các tác giả đã khẳng định rằng việc tuyên truyền về tác hại của cháy rừng, quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy, hướng dẫn về phương pháp dự báo, cảnh báo, xây dựng các công trình PCCCR, tổ chức lực lượng PCCCR, quy định về dùng lửa trong dọn đất canh c 5 tác, săn bắn, du lịch, quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân v. sẽ là những giải pháp xã hội quan trọng trong công tác PCCCR. Những nghiên cứu về PCCCR ở khu vực U Minh Thượng Những tài liệu đầu tiên trình bày biện pháp PCCCR tràm là cuốn "Bài giảng Phòng cháy chữa cháy rừng" của Phạm Gia Tường (1976) và cuốn "Phòng cháy chữa cháy rừng" của Ngô Quang Đê, Lê Đăng Giảng và Phạm Ngọc Hưng (1983). Trong những tài liệu này các tác giả đã mô tả một cách khái quát hiện tượng cháy ngầm ở rừng tràm và giới thiệu việc xây dựng kênh mương phòng cháy như một biện pháp quan trọng nhất cho PCCCR tràm.
Một tài liệu khác trình bày cụ thể hơn về đặc điểm cháy rừng tràm là luận án Phó tiến sỹ của Phan Thanh Ngọ (1996) với tên đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp PCCCR thông ba lá, rừng tràm ở Việt Nam”. Tác giả đã mô tả sự tồn tại cả 3 loại cháy tán, cháy mặt đất và cháy ngầm ở rừng tràm, nêu đặc điểm thời tiết, loại rừng và hoạt động kinh tế xã hội có liên quan đến cháy rừng tràm. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số biện pháp kỹ thuật và kinh tế xã hội cho PCCCR tràm. [25] Từ năm 1981-1985, Đề tài cấp Nhà nước Mã số 04010107 do TS.
Phạm Ngọc Hưng làm chủ trì đã tiến hành nghiên cứu một số biện pháp PCCCR thông và rừng tràm ở ba tỉnh Quảng Ninh, Lâm đồng và Minh Hải (Cà Mau, Kiên Giang). Kết quả đề tài là một số đề xuất về những vấn đề sau: - Xây dựng hệ thống chòi canh - Xây dựng đường băng cản lửa (xanh và trắng) - Xây dựng hệ thống kênh mương - Xây dựng hệ thống hồ chứa nước phòng cháy - Dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng thông và rừng tràm - Nghiên cứu ứng dụng một số công cụ chữa cháy rừng - Xây dựng lực lượng phòng và chữa cháy rừng thông và rừng tràm. Trong báo cáo sơ kết đề tài “Nghiên cứu về quản lý rừng tràm ở đồng bằng sông Cửu Long”, Mai Văn Nam (2002) cũng mô tả hiện tượng cháy “khủng khiếp” c 6 của rừng tràm. Tác giả chủ yếu tập trung phân tích nguyên nhân về mặt kinh tế - xã hội của cháy rừng, đặc biệt là ảnh hưởng của các chính sách sở hữu và sử dụng rừng tràm, chính sách chia sẻ lợi ích và hình thức tổ chức quản lý rừng tràm đến ý thức và mức độ tham gia của người dân vào quản lý rừng tràm.
Tác giả kết luận những giải pháp kinh tế - xã hội sẽ có ý nghĩa quan trọng nhất trong việc PCCCR tràm [23]. Một tài liệu khác cũng thu hút sự chú ý của những người quan tâm đến cháy rừng tràm là “Báo cáo kiểm điểm trách nhiệm của Cục kiểm lâm về các vụ cháy rừng tràm tại U Minh năm 2002” (Cục kiểm lâm, 2002). Các tác giả đã nêu những nguyên nhân chủ yếu của cháy rừng tràm gồm: sự biến đổi bất thường của thời tiết đã gây khô hạn nghiêm trọng, hiện tượng tháo nước bắt cá đầu mùa khô làm tăng mức khô hạn của đất rừng tràm, hoạt động đốt ong thiếu kiểm soát đã làm tăng nguồn lửa ở rừng tràm, tổ chức tuần tra chưa nghiêm túc nên không phát hiện sớm các đám cháy, không được thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng cháy như đắp đập giữ nước, dọn vệ sinh rừng, thiếu sự tham gia tích cực của chính quyền và người dân địa phương vào PCCCR, thiếu phương pháp và phương tiện chữa cháy hiệu quả v. Các tác giả cũng đề xuất những giải pháp quan trọng cho PCCCR tràm như tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ rừng và chấp hành luật PCCCR, xây dựng hệ thống biển báo, biển cấm lửa, canh gác nghiêm ngặt, xây dựng các công trình PCCCR như đường vận chuyển phương tiện chữa cháy, các chòi canh cháy rừng, hệ thống đê bao quanh khu bảo vệ nghiêm ngặt, xây dựng trạm bơm cung cấp nước trong mùa khô, trang bị đủ phương tiện PCCCR như xuồng, dây bơm nước, cưa xăng, xẻng, cuốc, dao, khoan giếng v.
Tài liệu gần đây nhất về xây dựng giải pháp PCCCR tràm là báo cáo của hội thảo khoa học về những nội dung của “Dự án đầu tư khôi phục, bảo vệ và phát triển VQG U Minh Thượng sau vụ cháy rừng tháng 3 năm 2002” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang tổ chức. Hội thảo đã đưa ra một số kết luận quan trọng sau: - Khôi phục HST rừng tràm sau cháy bằng phương pháp tái sinh tự nhiên là chính, chỉ gieo sạ bổ sung ở những nơi không có tái sinh tự nhiên. c 7 - PCCCR tràm chủ yếu phải bằng cách duy trì độ ẩm hợp lý cho than bùn trong suốt mùa khô, tu bổ hệ thống kênh điều tiết nước, làm tốt công tác dự báo, phát hiện sớm và chữa cháy kịp thời, kết hợp phương tiện chữa cháy thô sơ và hiện đại. - Phải ký thoả ước giữa VQG với người dân địa phương trong việc bảo vệ rừng và PCCCR, tập trung xây dựng các công trình thuỷ lợi và hệ thống điện sản xuất và sinh hoạt cho người dân địa phương, tăng cường tuyên truyền giáo dục môi trường, giáo dục ý thức pháp luật, ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường cho người dân địa phương, phải lôi cuốn được cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động PCCCR.
Vào năm 2003, trong Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005 về “Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai”, Nhà nước đã đầu tư thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng các giải pháp phòng chống và khắc phục hậu quả cháy rừng cho vùng U Minh và Tây Nguyên”. Vương Văn Quỳnh làm chủ nhiệm. Đề tài đã tiến hành nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp PCCCR và khắc phục hậu quả cháy rừng tràm ở tỉnh Cà Mau và tỉnh Kiên Giang và rừng ở các tỉnh Tây Nguyên. Đề tài đã đưa ra giải pháp hữu hiệu cho PCCCR cho vùng U Minh trong đó có VQG U Minh Thượng như sau: - Xây dựng các phương pháp và quy trình dự báo cháy rừng.
- Xây dựng các giải pháp khoa học công nghệ, kinh tế xã hội cho PCCCR. - Xây dựng danh mục tập đoàn cây có khả năng chống chịu lửa.