mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, khách hàng chỉ cần viết séc hoặc uỷ nhiệm chi…sau đó người hưởng thụ mang giấy đến ngân hàng hoặc ngân hàng chi hộ để nhận tiền.Cùng với sự phát triển c ủa công nghệ thông tin, nhiều hình thức thanh toán được phát triển như: thanh toán quốc tế (L/C), thẻ điện tử, máy ATM…Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng giúp khách hàng thanh toán nhanh gọn, chính xác, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn… 1.4 Nghiệp vụ khác Ngoài 3 nghiệp vụ nói trên, NHTM còn có một số các nghiệp vụ khác như: cung cấp dịch vụ môi giới, uỷ thác, tư vấn, đầu tư chứng khoán…những lĩnh vực này góp phần tạo thêm uy tín và niềm tin của ngân hàng đối với các khách hàng.2 Khái niệm và phân loại tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là một nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại, trong đó NHTM ( bên cho vay ) thoả thuận chuyển giao tài sản ( tiền hoặc hiện vật ) cho khách hàng ( bên đi vay ) sử dụng trong một thời gian nhất định, khi đến hạn Nguyễn Văn Đăng QTKD 4 thanh toán, bên đi vay có trách nhiệm vô điều kiện trong hoàn trả gốc ban đầu và trả thêm phần lãi cho bên cho vay. Hoạt động tín dụng là hoạt động tạo phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng. Các khoản thu của hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn hoặc lớn nhất trong các hoạt động của ngân hàng. Hình thức tín dụng truyền thống của ngân hàng thương mại là cho vay ngắn hạn có đảm bảo bằ ng tài sản, giúp khách hàng mua hàng hoá, nguyên nhiên vật liệu, sau đó mở rộng thành nhiều hình thức khác nhau như cho vay thế chấp bằng bất động sản, bằ ng các chứng khoán, bằng giấy tờ lưu kho hoặc không cần thế chấp.
Tuy vậy, hoạt động tín dụng phải đảm bảo một số điều kiện của môth hợp đồng tín dụng là: Thứ nhất, thời hạn, lãi suất và hạn mức hoàn trả của hợp đồng. Sau khoảng thời gian ghi trong hợp đồng người vay cần phải hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng. Thứ hai, vốn vay phải đả m bảo được sử dụng đúng mục đích. Khoản vay phải dựa trên phương án sản xuất kinh doanh nhằm phòng tránh rủi ro đạo đức trong quá trình giải ngân.
Thứ ba, vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản tương đương. Tài sản đảm bảo có thể là: vốn vay ngân hàng, tài sản cầm cố hoặc thế chấp, bảo lãnh… 1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tuỳ theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. * Phân loại theo thời gian Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian, tín dụng được phân thành: - Tín dụng ngắn hạn : từ 12 tháng trở xuống; - Tín dụng trung hạn: từ 1 năm đến 5 năm; - Tín dụng dài hạn : trên 5 năm.
Nguyễn Văn Đăng QTKD 5 * Phân loại theo hình thức Gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh, và cho thuê. - Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn. Ngân hàng ứng trước tiền cho người bán nhưng thực chất là thay thế người mua trả tiền trước cho người bán. - Bảo lãnh là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng của mình.
Mặc dù ngân hàng không trực tiếp xuất tiền ra nhưng ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi. - Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoản thời gian xác định. - Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thoả thuận nhất định. Sau thời gian xác định khách hàng phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.
* Phân loại theo tài sản đảm bảo Loại này được phân chia thành tín dụng có đả m bảo bằng uy tín của chính khách hàng, có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản. Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài sản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba để trả nợ cho ngân hàng. Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng phải kí hợp đồng đảm bảo. * Phân loại tín dụng theo rủi ro Theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các căn cứ để phân loại rủi ro.
Thí dụ như tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề, nợ quá hạn… * Phân loại khác Theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp…) Theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định) Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng…) Nguyễn Văn Đăng QTKD 6 1.3 Quy trình tín dụng ngân hàng Quy trình tín dụng là quá trình cấp tín dụng của ngân hàng bao gồ m nhiều giai đoạn và có quan hệ chặt chẽ với nhau; mang tính chất liên hoàn, theo một trình tự nhất định, kết quả của giai đoạn trước là cơ sở để thực hiện giai đoạn tiếp theo và là tác động đến chất lượng của các giai đoạn sau. Trong mỗi giai đoạn lại gồm nhiều công việc được thực hiện theo hệ thống những nguyên tắc và những quy định. Quy trình tín dụng tổng quát Các giai đoạn Nguồn thông tin Nhiệm vụ của Kết quả sau mỗi của quy trình tín cung cấp ngân hàng bước dụng 1.Lập hồ sơ đề Các thông tin để Tiếp xúc, hướng Hoàn thành hồ sơ nghị cấp tín dụng lập hồ sơ do dẫn khách hàng vay vốn khách hàng tự cung cấp 2. Phân tích tín -Hồ sơ từ giai Phân tích, đánh Báo cáo kết quả dụng đoạn 1 giá về các mặt tài thẩm định -Thông tin bổ chính, phi tài sung từ phỏng chính của khách vấn,hồ sơ lưu hàng trữ,nguồn khác 3.Ra quyết định -Báo cáo kết quả Ra quyết định -Quyết định cho tín dụng thẩm định từ giai cho vay hoặc từ vay: tiến hành đoạn 2 chối cho vay các thủ tục cần -Các thông tin bổ thiết: lý hợp đồng sung tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay -Quyết định từ Nguyễn Văn Đăng QTKD 7 chối cho vay:lập giấy báo lý do.
Giải ngân -Quyết định cho -Thẩm định lại Tiền giao cho vay và các hợp hồ sơ chứng tù. khách hàng bằng đồng có liên -Tiến hành giải cách chuyển vào quan từ giai đoạn ngân theo điều tài khoản tiền gửi 3 kiện hợp đồng. của các đơn vị -Các chứng từ cung cấp. làm cơ sở giải ngân.Thực hiện -Thông tin từ nội `Giám sát, theo -Báo cáo kết quả nghiệp vụ sau bộ ngân hàng.
dõi tài khoản, giám sát, đưa ra giải ngân. -Các báo cáo tài phân tích các chỉ các giải pháp hợp - Giám sát, thu chính của khách tiêu tài chính… lý. `Các nghiệp vụ - Các nghiệp vụ -Tái xét và xếp -Các thông tin khác. loại tín dụng, khác.
ngăn ngừa rủi ro tín dụng, xử lý nợ có vấn đề. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế Các NHTM hoạt động độc lập nhưng lại liên kết chặt chẽ hình thành hệ thống và ảnh hưởng qua lại với nhau. Sức mạnh của NHTM không phải là sức mạnh của bản thân nó mà là sức mạnh c ủa xã hội. Hệ thống NHTM là hệ thống huyết mạch của nền kinh tế, không chỉ là nơi cung cấp tín dụng và dịch vụ tài chính – ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống NHTM cũng ngày càng phát triển cả về quy mô và số lượng, khẳng định vai trò của một trung gian tài Nguyễn Văn Đăng QTKD 8 chính không thể thiếu trong hệ thống tài chính quốc gia. Đồng thời khẳng định vai trò chủ yếu của tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và đối với sự tồn tại và phát triển của bản thân các ngân hàng nói riêng. * Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với bản thân các NHTM Cấp tín dụng là một hoạt động chủ yếu của NHTM, đây là nguồn thu chủ yếu trong tổng nguồn thu của Ngân hàng, chiếm từ 60% – 70 %. Do mục tiêu sinh lời, việc thực hiện chức năng tập trung huy động vốn nhàn rỗi trong nề n kinh tế để tiến hành cho vay luôn được các Ngân hàng chú trọng.
Việc duy trì và mở rộng tín dụng mang một ý nghĩa sống còn đối với các NHTM. Hoạt động này được thực hiện hiệu quả sẽ tạo điều kiện để ngân hàng đẩ y mạnh hoạt động tập trung vốn, mở rộng việc thực hiện chức năng thanh toán. Do vậy, bên cạnh việc mở rộng hoạt động tín dụng các ngân hàng luôn quan tâm tới việc nâng cao chất lượng tín dụng. Có thể nói rằng, hoạt động tín dụng là hoạt động quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
* Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với nền kinh tế Thứ nhất, tín dụng ngân hàng góp phần giảm hệ số vốn nhàn rỗi trong lưu thông và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Tín dụng ngân hàng là trung gian để điền tiết nguồn vốn từ bộ phận nhàn rỗi đến bộ phận thiếu vốn với sự tương thích về số lượng một cách linh hoạt, giúp giảm số tiền nhàn rỗi trong lưu thông. Trong cơ chế thị trường ai cũng muốn đồng tiền của mình sinh lời, do đó họ sẵn sàng cho ngân hàng vay để thu lợi. Như vậy, tín dụng ngân hàng đã góp phần nâng cao thu nhập cho người gử i tiết kiệm.
Thứ hai, chính phủ sử dụng tín dụng ngân hàng như một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Thông qua kiểm soát khối lượng tín dụng, định hướng đầu tư cùng với lãi suất tín dụng giúp chính phủ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và hợp lý, kiềm chế lạm phát. Tín dụng ngân hàng vừa tập trung vốn đầu tư cho các ngành Nguyễn Văn Đăng QTKD 9 kinh tế mũi nhọn, vừa tham gia vào các chương trình chính sách xã hội thực hiện kết hợp tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.