CHƯƠNG 1 R Ủ I R O V À Q U Ả N L Ý R Ủ I R O T ÍN D Ụ N G C Ủ A N G Â N H À N G THƯƠNG M ẠI 1.1- KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CÁC RỦI RO CỦA NHTM 1 .1 - H o ạ t đ ộ n g k in h d o a n h c ủ a N H T M [4], [6 ],[1 6 ] N H T M là m ột trung gian tài chính thực hiện kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân h àng, lấy v iệ c huy đ ộng tiền gửi để ch o vay là hoạt đ ộn g kinh doanh chủ yếu. N gân h àng là m ột trong những trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. N ó cu n g cấp m ột danh m ục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm , dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ m ột trung gian tài chính nào trong nền kinh tế. Gắn với các dịch vụ m à nó cung cấp ngày càng được m ở rộng, chức năng của ngân hàng cũ n g n gày càng tăng.
T uy nhiên, các chức năng cơ bản của m ột ngân hàng bao gồm : chức năng thu hút tiền gửi và tiết k iệm trong nền kinh tế, cấp tín dụng ch o các tác nhân trong nền kinh tế, cu n g cấp các dịch vụ thanh toán. N g à y nay, n go à i các chức năng cơ bản nêu trên, ngân hàng còn thực hiện nhiều chức năng khác như: chức năng tạo tiền, cu n g cấp uỷ thác, bảo quản an toàn vật c ó giá trị, chức năng m ôi g iớ i, tư vấn. N ếu như trước đây, ngân hàng chí đ ón g m ột vai trò hạn c h ế là nhận tiền gửi và ch o vay, n gày nay, trong xu th ế h ội nhập và toàn cầu hoá thì ngân hàng đã phải thực h iện nhiều vai trò m ới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của xã h ội. Các vai trò đó là: - V ai trò trung gian: C huyển các khoản tiết k iệm , chủ yếu từ các hộ gia đình, thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần khác để đầu tư vào sản xuất kinh doanh; 4 - V ai trò thanh toán: Thay mặt khách hành thực h iện thanh toán cho việc mua hàng hoá, d ịch vụ; - V ai trò người bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán; - V ai trò đại lý: T hay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát hành hoặc ch u ộ c lại chứng khoán (thường được thực hiện tại Phòng uỷ thác); - V ai trò thực h iện chính sách: Thực hiện chính sách kinh tế của Chính phủ, gó p phần tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các m ục tiêu xã hội.
Đ ể thực hiện được cá c vai trò trên, ngân hàng phải xác định nhu cầu của xã h ội, từ đó tổ chức cu n g cấp các sản phẩm dịch vụ đó m ột cách có hiệu quả và bán ch ú n g tại m ức giá cạnh tranh. K inh doanh ngân hàng là kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác có liên quan đến tiền tệ, thể hiện ở v iệc các ngân hàng vay m ượn, huy động vốn từ các n gu ồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư hay các tổ chức kinh tế- xã hội để ch o vay hoặc đầu tư vào các lĩnh vực m à pháp luật ch o phép. Có thể nói, huy đ ộn g tiền gửi và ch o vay là hoạt động đặc trưng và m ang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. T uy nhiên, việc huy đ ộn g vốn để cho vay của ngân hàng chứa đựng n gu y cơ rủi ro cao, vì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là rủi ro kép, tức là bên cạnh rủi ro từ chính hoạt đ ộn g kinh doanh của m ình, ngân hàng còn phải gánh chịu những rủi ro từ phía khách hàng, bao gồm cả bên gửi tiền và bên vay tiền.
N g o à i ra, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ khác như kinh doanh n goại tệ, cung cấp các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh. và trong m ỗi nghiệp vụ này lại tiềm ẩn các loại rủi ro đặc thù.2- Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của N H TM [18],[19] Trong kinh tế thị trường, nơi nào có cơ h ội k iếm được lợi nhuận cao thì nơi đó, n guy cơ gặp rủi ro cũng lớn. Chính v ì vậy, nếu sợ rủi ro thì doanh 5 nghiệp k hông những k h ôn g thể có lợi nhuận m à còn k h ôn g thể tồn tại được trên thị trường, vì nó luôn bỏ qua các cơ h ộ i tìm k iếm lợ i nhuận. Kinh doanh ngân hàng cũ n g k h ôn g nàm ngoài quy luật này.
Các rủi ro m à ngân hàng phải đôi m ặt k h ôn g những là cá c rủi ro từ bản thân hoạt đ ộn g kinh doanh của ngân hàng, m à cò n là cá c rủi ro do khách hàng và m ôi trường m ang đến. Hơn thế nữa, các rủi ro này lại có m ối quan hệ chặt chẽ với nhau, rủi ro này có thể là n gu yên nhân dẫn đến nhiều rủi ro khác. M ột s ố loại rủi ro m à hoạt động kinh doanh ngân hàng gặp phải bao gồm : - R ủi ro lãi suất: là rủi ro xả y ra khi cơ cấu tài sản Có và tài sản N ợ của ngân hàng k h ôn g cân xứng với nhau hoặc khi giá trị tài sản thay đổi, lãi suất thị trường biến động. - Rủi ro n goại hối: D o tỷ giá và các m ức lãi suất giữa các đ ồng tiền của các quốc gia có m ối tương quan với nhau, nên khi tài sản Có và tài sản N ợ về m ỗi loại ngoại tệ của ngân hàng k h ôn g cân xứng với nhau về kỳ hạn và về s ố lượng thì rủi ro ngoại hối sẽ xảy ra.
- R ủi ro tín dụng: R ủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp không thu được đây đủ cả g ố c và lãi của khoản vay, hoặc khi khách hàng thanh toán nợ g ố c và lãi k h ôn g đúng kỳ hạn. - R ủi ro thanh khoản: D o m ất lòng tin hay vì m ột lý do nào đó, nếu những người gửi tiền đ ồn g thời có nhu cầu rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức thì ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro thanh khoản. - R ủi ro hoạt đ ộng n goại bảng: M ặc dù các hoạt đ ộn g ngoại bảng không thuộc bảng cân đ ối tài sản, không sử dụng đến vốn kinh doanh trong khi các ngân hàng vẫn thu được phí, nhưng nó lại tiềm ẩn rủi ro v ì các ngân hàng phải lấy vốn kinh doanh của m ình để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán hộ khách hàng khi họ k h ôn g c ó khả năng thanh toán, hoặc k h ôn g thực hiện đúng cam kết. - Rủi ro c ô n g n gh ệ và hoạt động: R ủi ro cô n g nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư ch o phát triển cô n g nghệ k h ôn g tạo ra được khoản tiết kiệm như 6 đã dự tính khi m ở rộng quy m ô hoạt động.
R ủi ro hoạt đ ộn g có m ối liên hệ chặt ch ẽ với rủi ro c ô n g nghệ và có thể phát sinh bất cứ khi nào nếu hệ thống cô n g n gh ệ bị trục trặc, hoặc khi hệ thống hỗ trợ ngừng hoạt động. - R ủi ro q u ốc g ia và các rủi ro khác: R ủi ro q u ốc gia xả y ra khi việc đầu tư vào các cô n g ty nước n goài có trụ sở đặt ở nước n goài bị trục trặc do côn g ty được đầu tư gặp rủi ro hoặc do sự thay đổi cơ c h ế chính sách, thể c h ế chính trị luật pháp. dẫn đến v iệc ngân hàng không thu hồi được vốn đầu tư. N goài ra hoạt đ ộn g ngân h àng còn gặp phải các lo ạ i rủi ro khác như thay đổi thuế, ảnh hưởng của ch iến tranh, khủng hoảng kinh tế, sự sụp đổ đột ngột của thị trường chứng khoán, bị lừa đảo, trộm cắp.1- Rủi ro tín dụng [8], [18], [19], [5] 1.1- K hái niệm Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro.
T heo Frank Knight: “R ủi ro là sự bất chắc có thể đo lường được"[24, tr233]; Irving Preffer thì cho rằng “rủi ro là tổng hợp nhũng sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất"[25,tr42]; cò n theo A llan W ilett thì “rủi ro là sự bất chắc cụ thể liên quan đến v iệ c xuất hiện m ột biến c ố không m ong đợi"[22,tr6]. N ó i chung đối với hầu hết m ọi người thì rủi ro ám chỉ m ột s ố kết cụ c không chắc chắn về hậu quả của m ột tình h u ốn g nhất định. Trong cu ộ c số n g , khái niệm rủi ro cũng luôn thay đổi. N ó được sử dụng đê m iêu tả bất cứ tình huống nào m à tại đó có sự k h ôn g chắc chắn về kết cục xảy ra.
Trong x á c suất thống kê, quản lý tài chính hay quản lý đầu tư, thuật ngữ rủi ro thường x u y ên được sử dụng đê chỉ ra khả năng có thể về m ột kết cục xấu xung quanh m ột s ố giá trị kỳ vọng. 7 Trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, cung cấp tín dụng là chức năng của N H T M và tín dụng được định nghĩa “là m ột giao d ịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên ch o vay (ngân hàng và các định c h ế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh n gh iệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển g ia o tài sản ch o bên đi vay sử dụng trong m ột thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều k iện vốn g ố c và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán” [5,tr20].