Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các nghiên cứu có liên quan 1. Các nghiên cứu nước ngoài Kalu và cộng sự (2012) đã sử dụng hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên dé đo lường mức độ và các yếu tô quyết định hiệu quả kinh tế trong sử dụng rom ra sản xuất nam tại bang Abia, Đông Nam Nigeria. Nghiên cứu khảo sát 60 nông dân trồng nam tại ba khu nông nghiệp của bang Abia.
Kết quả phân tích cho thấy hiệu quả kinh tế cấp trang trại trung bình là khoảng 85%. Các yếu tô lao động đầu vào, quy mô trang trại, tudi tác, trình độ giáo dục và thành viên của hợp tác xã ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kinh tế của nông dân trồng nam tại khu vực nay. Khan và cộng sự (2019) đã phân tích lợi nhuận và các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của nông hộ sử dụng rơm rạ trồng nắm ở quận Dhaka, Bangladesh. Dữ liệu được thu thập từ 50 nông dân trồng nắm của bốn khu vực trồng nắm lớn nhất thuộc quận Dhaka.
Khu vực này có sự tập trung của những người nông dân trồng các loại nắm khác nhau. Từ phân tích các chỉ số tỷ suất lợi nhuận gộp và lợi nhuận ròng, nghiên cứu cho thay nam là một cây trồng có lợi nhuận khá cao. Tổng chi phí, lợi nhuận gộp va BCR không chiết khấu mỗi năm sản xuất nắm mỗi mùa lần lượt là Tk. Kết qua ham Cobb-Douglas chỉ ra rằng lợi nhuận gộp mỗi năm chịu tác động đáng kể bởi trình độ học van, số lao động gia đình và số lượng gói sinh sản (hạt giống) của nông dân.
Nghiên cứu của Guan và cộng sự (2020) đã nghiên cứu việc sử dụng rơm rạ và ngô ủ làm phân bón cho cây trồng cho hệ thống canh tác hai vụ hàng năm lúa mì vụ đông-ngô hè trên đồng bằng phía Bắc Trung Quốc. Quá trình ươm tại chỗ rơm lúa mì và ngô được đo lường theo bốn phương pháp quản lý: (i) rơm kết hợp với bón phân hóa học; (ii) rơm trộn với phân bón hóa học và phân chuồng: (iii) rom ra kết hợp với phân bón hóa học và chế phâm phân hủy rơm ra; va (iv) chỉ trộn rơm. Kết quả cho thấy rơm trộn với phân bón hóa học và phân chuồng: và rơm rạ kết hợp với phân bón hóa học và chế phẩm phân hủy rơm rạ gia tăng đáng kể trong quá trình phân hủy rơm và giải phóng chất dinh dưỡng. Năng suất cây trồng sử dụng phân bón rơm trộn với phân bón hóa học; và phân chuồng và rơm rạ kết hợp với phân bón hóa học và chế phẩm phân hủy rom ra giúp gia tăng tăng năng suất 18-53%, giảm 8-15% chi phí và tăng 17-22% lợi nhuận.
Opoplot (2023) đã đánh giá việc sử dụng rơm rạ trong sản xuất phân bón hữu cơ tại ở quận Soroti, miền đông Uganda. Nghiên cứu đã khảo sát 120 nông dân trồng nam quy mô nhỏ ở quận Soroti. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng rom ra sản xuất phân bón hữu cơ giúp giảm chi phí phân bón trong sản xuất nông nghiệp của hộ và tăng năng suất cây trồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố độ tuôi, giới tính, số lao động, số năm kinh nghiệm làm nông nghiệp và diện tích đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến quyết định sản xuất phân bón hữu cơ từ rơm rạ của nông hộ.
Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam và trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý nguồn rom ra sau thu hoạch với cách tiếp cận cũng như phương pháp nghiên cứu khác nhau, mỗi tác giả đã tìm cho mình những hướng đi phù hợp đề đạt được hiệu quả cao. Sau đây là một số đề tài: Nguyễn Xuân Thành và cộng sự (2009) đã nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất chế phẩm sinh vật xử lý tàn dư thực vật trên đồng ruộng thành phân hữu cơ tại chỗ bón cho cây trồng. Quy trình sản xuất chế phẩm vi sinh vật xử lý tàn dư thực vật trên đồng ruộng đạt TCVN. Chế phẩm được thử nghiệm đem lại hiệu quả cao, rút ngắn thời gian xử lý so với đối chứng xuống còn 46-60 ngày, có hàm lượng dinh dưỡng tăng.
có thé làm phân bón hữu cơ tại chỗ cho nhiều loại cây trồng, giảm bớt chi phí đầu tư cho sản xuất nông nghiệp. Cục Thông tin khoa học và Công nghệ quốc gia (2010) trong nghiên cứu “Nguồn phé thải nông nghiệp rơm ra và kinh nghiệm thé giới về xử lý và tan dụng” của tác giả Tạ Bá Hưng tập trung phân tích các phương pháp, công nghệ xử lý rơm rạ trên thế giới hiện nay, qua đó đánh giá được các ưu điểm, nhược điểm của từng phương pháp và định hướng sử dụng rơm rạ trong thời gian tới. Từ đó đề xuất các giải pháp để quản lý hiệu quả. Dự án Hỗ trợ Nông nghiệp Các bon thấp (LCASP) (2015) do Bộ NN&PTNT chủ trì, vay vốn Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) với mục tiêu xây dựng nền sản xuất nông nghiệp bền vững, hiệu quả và thân thiện với môi trường thông qua việc xây dựng/nhân rộng các mô hình nghiên cứu và chuyên giao công nghệ sản xuất nông nghiệp tiên tién hướng tới giảm phát thải khí nhà kính (KNK) và ứng phó/giảm thiểu tác động của biến đồi khí hậu (BDKH), sử dụng hiệu qua tài nguyên thiên nhiên, phế phụ pham trong nông nghiệp; quan lý hiệu quả hoạt động chế biến, bảo quản nông sản sau thu hoạch.
Hoàng Anh Lê và cộng sự (2013) đã ước tính lượng khí phát thải do đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Từ việc phân tích tích chất vật lý, hóa học của rơm rạ, tính toán khối lượng rơm rạ phát sinh trên địa bàn tỉnh Thái Bình, sử dụng phương pháp ước tính lượng khí phát thải từ đốt rơm rạ dựa vào hệ số phát thải của Thái Lan, Trung Quốc để tính toán mức phát thải khí do đốt rơm rạ năm 2012 và chỉ ra bức tranh tổng quát về phát thải khí theo không gian trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Đặng Thuỳ Anh (2015) đã nghiên cứu tái sử dụng rơm rạ làm phân bón cho cây lúa tại tỉnh Hưng Yên. Tác giả đã thực nghiệm việc tạo phân compost từ rơm rạ và phân than sinh học từ rơm rạ bón cho các ruộng lúa trên địa bàn huyện Tiên Lữ và TP.
Kết quả của nghiên cúu cho thấy việc bón phân ủ từ rơm rạ giúp gia tăng độ phì nhiêu của đất, tăng năng suất lúa từ 10-25% và giảm ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu đã đề xuất các quy trình thực hiện và các giảm pháp quản lý nhằm gia tăng hiệu quả sử dụng của phân bón từ rơm rạ. Tôn Nữ Hải Âu (2017) đã đánh giá hiệu quả sử dụng rơm rạ trong sản xuất nắm sò ở tỉnh Quảng Trị thông qua tính toán lợi nhuận và xác định các nhân tố ảnh hưởng hiệu quả sản xuất của nông hộ. Nghiên cứu này đã tiến hành phân tích hiệu quả của hoạt động sản xuất nắm sò của 94 hộ trồng nắm sò ở tỉnh Quảng Trị thông qua chỉ tiêu lợi nhuận cũng như xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nó thông qua mô hình Cobb - Douglas.
Kết qua phân tích cho thấy, bình quân mỗi hộ có thé thu được 7,9 triệu đồng lợi nhuận từ 1000 bịch giống, chiếm 38,6% tong giá trị sản xuất của hộ. Số lượng bịch giống và số tháng trồng nam là những yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng nam sản xuất. Ngoài ra, loại nước tưới và tình trạng tham gia tập huấn cũng như giới tính của những người sản xuất cũng được xác định có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê đến kết quả sản xuất của các hộ điều tra. Vì vậy tăng lượng giống sử dụng hoặc tăng số tháng trồng nắm trong năm, mở rộng hơn nữa các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng nắm sò cũng như phương pháp phòng và trị sâu bệnh và khuyến khích người nông dan sử dụng nước máy dé tưới nam là những biện pháp cần thiết dé nâng cao hơn nữa kết quả và hiệu quả sản xuất.
Nguyễn Hùng Cường và cộng sự (2022) đã nghiên cứu về tiềm năng và phương pháp tái sử dụng phế phụ phẩm rơm rạ làm nguyên liệu hữu cơ, phân bón hữu cơ phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững ở vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đã trình bày về tình hình sử dụng rơm rạ và tái chế rơm rạ trên địa bàn các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, mô hình thu gom, xử lý, tái sử dụng rơm rạ làm phân bón hữu cơ được xây dựng và đánh giá hiệu quả tại tỉnh Long An và Nam Định. Kết quả đã trình bày quy trình cụ thé ủ phân đạt tiêu chuẩn và đưa ra các nhóm giải pháp nhằm thúc day tái sử dụng phế phụ phẩm rom ra làm nguyên liệu hữu co, phân bón hữu cơ phục vụ phát triển nông nghiệp.
Cục Trồng trọt (2023) đã hoàn chỉnh và xây dựng số tay hướng dẫn quản lý rơm rạ theo hướng nông nghiệp tuần hoàn và phát thải thấp ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Nghiên cứu đã trình bày đặc điểm, hiện trạng xử lý, quy trình quản lý, sử dụng rơm rạ theo hướng tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa gạo. Trong đó, có 10 phương pháp xử lý rom ra phô biến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là Đốt rơm rạ trên đồng, vừi rơm rạ, thu gom, trồng nấm, làm thức ăn gia súc, sản xuất phân bón, than sinh học, làm nhiên liệu, phân huỷ tại gas va san xuất khí sinh học. Nghiên cứu cũng trình bày chi tiết quy trình, sự hiệu quả và các ví dụ minh hoạ.
Qua nghiên cứu cho thấy có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý rơm ra và các hình thức xử lý rơm rạ trong đó có sử dụng rơm rạ sản xuất phân bón hữu cơ. Tuy nhiên trên địa bàn huyện Tân Hưng chưa có nghiên cứu nào về quản lý rơm rạ trong sản xuất nông nghiệp thông qua sản xuất phân bón hữu cơ, do đó đề tài nghiên cứu được thực hiện là cần thiết. Kinh nghiệm quản lý rơm rạ trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới và trong nước 1. Trên thế giới 1.
Kinh nghiệm quản lý tại Mỹ Mỹ là một quốc gia đi đầu trong công tác quản lý rơm rạ hiệu quả. Cũng như Việt Nam hiện nay, năm 1989, tại bang California của Mỹ có khoảng 95% diện tích trồng lúa, phế thải đồng ruộng bị đốt bỏ mỗi năm đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.