CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ 1. Tổng quan về nợ thuế 1. Khái niệm về nợ thuế Khái niệm: Nợ thuế là khoản tiền thuế theo qui định của pháp luật thuế nhưng người nộp thuế không nộp đầy đủ, đúng hạn vào NSNN.[19] Một trong những đặc trưng quan trọng của Thuế là mang tính pháp lý cao. Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của người nộp thuế và sẽ trở thành một khoản nộp bắt buộc mà người nộp thuế phải có nghĩa vụ chuyển giao cho Nhà nước.
Tuy nhiên, trong thực tiễn do những lý do nào đó mà người nộp thuế chưa nộp hoặc không nộp thuế cho nhà nước theo thời hạn quy định, hình thành một khoản nợ thuế.[19] Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp, tiền chậm nộp và các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào NSNN như: người nộp thuế đã kê khai; cơ quan thuế đã thông báo; các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho cơ quan thuế, cơ quan thuế xác định nghĩa vụ của người nộp thuế và đã thông báo cho người nộp thuế.[19] Tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp, tiền chậm nộp và các khoản phải nộp khác người nộp thuế đã nộp nhưng có một số sai sót trên chứng từ nộp tiền hoặc chứng từ chậm luân chuyển hoặc thất lạc, chờ ghi thu - ghi chi; cơ quan thuế đang điều chỉnh theo đúng quy định. Người nợ thuế là người nộp thuế có khoản tiền thuế nợ theo quy định. Khoản nợ là số tiền thuế nợ được xác định theo từng lần phát sinh. Tiền chậm nộp là khoản tiền được tính trên số tiền thuế nợ và số ngày nợ thuế của một khoản nợ.
Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào ngân sách nhà nước, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo Bộ Luật Lao động. 6 Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày tiếp theo ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày khoản nợ được nộp vào ngân sách nhà nước; hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bản xoá nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng các hình thức khác. Khoá sổ thuế là thời gian ngừng nhập các chứng từ kế toán liên quan đến nghĩa vụ thuế của người nộp thuế như tờ khai thuế, chứng từ nộp thuế, các quyết định, thông báo.
Sau khi khoá sổ thuế, mọi số liệu trên Sổ theo dõi thu nộp thuế các tháng trước sẽ không được điều chỉnh, bổ sung ngay, mà chỉ được điều chỉnh, bổ sung sau ngày khoá sổ và sẽ được hạch toán vào thời điểm phát hiện để điều chỉnh, bổ sung. Đặc điểm về nợ thuế Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến. Như chúng ta đã biết, thuế là một hình thức phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc, mà người có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước. Rõ ràng, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế.
Vì thế, ở Việt Nam cũng như ở các nước khác trên thế giới, người nộp thuế luôn có xu hướng trốn hoặc tránh thuế. Đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam, khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của công tác thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế để thu thuế. Tình trạng trốn thuế, gian lận về thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu cho Ngân sách Nhà nước, vừa không đảm bảo công bằng xã hội. Hay nói cách khác họ tìm mọi cách để tối thiểu hoá số thuế mà người nộp thuế phải nộp.
Một trong những cách đó là họ tìm cách nợ thuế. Vì thế, để hạn chế nợ thuế bên cạnh những biện pháp có tính chất luật pháp để cưỡng chế người nộp thuế tuân thủ thì vấn đề tuyên truyền phổ biến để người nộp thuế tự giác thực hiện có ý nghĩa rất quan trọng.[15] Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Quy phạm pháp luật về thuế bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các 7 quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN. Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để diều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách nhà nước.
Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm vi điều chỉnh như: mức nộp thuế, đối tượng nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế. Như vậy, nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuế bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của Pháp luật. Quy định mức xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chậm nộp tiền thuế (nay gọi là tiền chậm nộp) đối với thời gian trước ngày 01/01/2015 tiền chậm nộp là 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với những khoản nợ thuế dưới 90 ngày và 0,07% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với những khoản nợ thuế trên 90, từ ngày 01/01/2015 tiền chậm nộp là 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với những khoản nợ thuế, từ ngày 01/7/2016 tiền chậm nộp là 0,03% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với những khoản nợ thuế.[10] Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN. Còn nợ thuế mới chỉ là hành vi dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật.
Nợ thuế có thể do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan. - Về chủ quan: Do người nộp thuế cố tình vi phạm nhằm chậm nộp tiền thuế vào NSNN để lợi dụng số tiền thuế sử dụng cho mục đích khác. - Về khách quan: Do có khó khăn về sản xuất hoặc thu nhập chẳng hạn như khủng hoảng kinh tế, lạm phát mà NNT tạm thời thiếu tiền nộp thuế. Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế Tránh thuế là hành vi lợi dụng những sơ hở của pháp luật để giảm được một phần nghĩa vụ phải nộp.
Ví dụ: DN kê khai chi phí thuê bản quyền sáng chế, nhãn 8 mác cao hơn giá trị thị trường của nó để tăng chi phí, hạ thấp thu nhập chịu thuế. Ngược lại, nợ thuế thì hoàn toàn khác về bản chất, đó là một nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình dây dưa chậm nộp. Các hình thức nợ thuế và điều kiện xuất hiện hành vi nợ thuế 1.1 Phân loại nợ thuế Là việc sắp xếp các khoản nợ thuế thành những nhóm khác nhau căn cứ vào tính chất của từng khoản nợ. Các loại nợ thuế: Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại nợ thuế.
Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ [17] Căn cứ vào khả năng thu hồi tiền nợ dựa trên những thông tin về người nợ thuế như: mức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế thì nợ thuế được phân loại thành nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ không có khả năng thu. Nợ có khả năng thu: Nợ có khả năng thu được hiểu là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác định phải nộp vào ngân sách nhà nước nhưng đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật mà chưa nộp, đồng thời không thuộc các trường hợp nợ thuộc nhóm nợ khó thu và nợ không có khả năng thu hồi. Tuỳ vào tính chất, mục đích thu nợ của từng thời kỳ kinh tế xã hội thì cơ quan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: nợ thuế chậm nộp dưới 30 ngày, nợ thuế chậm nộp từ 30 ngày đến 90 ngày và nợ thuế quá 90 ngày. Nợ khó thu: Nợ khó thu theo cách phân loại này bao gồm số tiền thuế nợ của người nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự hoặc đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật nên chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế hoặc nợ của người nợ thuế ngừng và tạm ngừng hoạt động kinh doanh; nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản.
Nợ không có khả năng thu: Việc phân loại nợ trong nhóm này chủ yếu căn cứ vào tình trạng tồn tại của người nộp trong nhóm này, người nộp thuế hầu hết đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc không còn tồn tại trong thực tế, bao gồm các khoản nợ thuộc các trường hợp như nợ của người nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản nhưng không làm các thủ tục, trình tự giải thể phá sản đúng pháp 9 luật nên chưa có đủ căn cứ pháp lý để xử lý theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của trường hợp nợ này là có khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ dẫn đến không còn khả năng thanh toán. Trường hợp người nộp thuế lâm vào tình trạng giải thể phá sản nhưng đang được cơ quan có thẩm quyền thụ lý để giải quyết cho phép khoanh nợ thì cũng phải đưa vào nhóm này để sau khi có quyết định khoanh nợ thì sẽ chuyển sang nhóm nợ không có khả năng thu này. Căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế [17] Căn cứ vào nội dung các khoản nợ qua kê khai của người nộp thuế, qua công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế thì nợ thuế được phân loại thành: nợ thuế, phí thông thường; nợ phạt thuế, phí và nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra.
Nợ thuế, phí thông thường: Nợ trong nhóm này thường bao gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế mà không bao gồm số thuế, phí bị truy thu, bị phạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện.