MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu Thuế là một nguồn thu quan trọng của NSNN. Thuế phải đƣợc thu đủ và kịp thời để đảm bảo cân đối thu chi ngân sách, tạo nguồn lực tài chính để duy trì các hoạt động của NN. Thu thuế tốt, NSNN đƣợc đảm bảo, ngƣợc lại thu không đủ và kịp thời sẽ thâm hụt nguồn thu ngân sách.
Kết quả thu thuế phụ thuộc rất nhiều yếu tố về chính sách, cơ chế thu năng lực của cơ quan thuế, ý thức tự giác và tình trạng hoạt động của ĐTNT… Công tác thu thuế từ trƣớc tới nay không bao giờ là dễ dàng vì nhiều nguyên nhân khác nhau, do ảnh hƣởng của nền kinh tế, do ảnh hƣởng của chiến tranh, dịch bệnh, do ảnh hƣởng của thiên tai bão lũ và bản thân ý thức của NNT. Vì vậy mà tình trạng NT luôn diễn ra trong thời gian vừa qua. Điều này đòi hỏi các CQT phải có biện pháp xử lý, QLNT một cách hiệu quả. Trong bối cảnh chung của đất nƣớc, Ngành Thuế thành phố Hải Phòng nói chung và CCT KV Ngô Quyền - Hải An nói riêng đã và đang triển khai công tác QLT, trong đó có công tác QLNT.
Thực tế thời gian qua cho thấy công tác QLNT tại CCT KV Ngô Quyền - Hải An đã đạt đƣợc những kết quả tích cực. Tuy nhiên, mặc dù đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp quyết liệt, thực hiện đầy đủ trách nhiệm và hết sức mềm dẻo linh hoạt, song công tác QLNT vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, cùng với việc tăng số thu thuế thì số nợ thuế cũng ngày một tăng cao. Đứng trƣớc thực trạng đó, công tác QLNT tại CCT KV Ngô Quyền - Hải An đang là vấn đề đòi hỏi sự cải tiến, hoàn thiện hơn nữa. Qua quá trình học tập, nghiên cứu tại Trƣờng Đại học Hải Phòng và qua quá trình công tác tại CCT KV Ngô Quyền - Hải An, học viên lựa chọn đề tài “Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế khu vực Ngô Quyền - Hải An, thành phố Hải Phòng” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về QLNT. - Phân tích, đánh giá thực trạng công tác QLNT tại CCT KV Ngô Quyền - Hải An, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018-2022. - Đề xuất biện pháp để hoàn thiện công tác QLNT tại CCT KV Ngô Quyền - Hải An, thành phố Hải Phòng. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là công tác QLNT tại CCT KV Ngô Quyền - Hải An, thành phố Hải Phòng. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Đề tài tập trung đi sâu vào các vấn đề lý luận và thực trạng, các biện pháp hoàn thiện công tác QLNT tại CCT KV Ngô Quyền - Hải An, thành phố Hải Phòng. - Về không gian: Đề tài nghiên cứu công tác QLNT tại CCT KV Ngô Quyền - Hải An, thành phố Hải Phòng. - Về thời gian: Số liệu sử dụng để nghiên cứu trong luận văn chủ yếu đƣợc thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2022.
Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, thống kê so sánh đối với các số liệu thu thập đƣợc để thấy đƣợc những thành tựu cũng nhƣ hạn chế của công tác QLNT tại CCT KV Ngô Quyền - Hải An, thành phố Hải Phòng. Số liệu trong luận văn là các số liệu thu thập từ các báo cáo của CCT KV Ngô Quyền - Hải An, thành phố Hải Phòng để phân tích thực trạng NT giai đoạn 2018- 2022 và QLNT của CCT KV Ngô Quyền - Hải An, thành phố Hải Phòng. Kết cấu của luận văn Luận văn gồm 3 chƣơng chính sau: 3 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thuế và công tác quản lý nợ thuế trong các doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế khu vực Ngô Quyền - Hải An, thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế khu vực Ngô Quyền - Hải An, thành phố Hải Phòng 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại về nợ thuế 1.
Thuế và các sắc thuế trong doanh nghiệp * Khái niệm thuế Thuế là công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Một trong những hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc để thực hiện các mục tiêu đặt ra cho CQT là quản lý thuế trên cơ sở bộ máy đƣợc tổ chức quản lý thuế theo mô hình phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội. Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nƣớc theo mức độ và thời hạn đƣợc pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội. * Các sắc thuế trong doanh nghiệp Thuế GTGT: Là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng và đƣợc thu ở khâu tiêu thụ hàng hóa dịch vụ.
Thuế TNDN: Là một loại thuế đánh vào thu nhập phát sinh của cơ sở sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định thƣờng là một kỳ kinh doanh. Thuế Thu nhập cá nhân: Là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định. Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là loại thuế đánh vào một số hàng hóa và dịch vụ nhằm điều tiết, hƣớng dẫn sản xuất, tiêu dùng của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ. Thuế xuất nhập khẩu: Là loại thuế trực thu, tính trực tiếp trên trị giá các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu.
5 Ngoài ra, Nhà nƣớc còn ban hành các văn bản pháp quy quy định một số khoản thu khác nhƣ Thuế tài nguyên, Phí, Lệ phí, Lệ phí trƣớc bạ, các loại thuế và khoản thu liên quan đến đất đai (Thu tiền thuê đất, tiền sử dụng đất,.) Tổng cục Thuế thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc (quản lý và thu) đối với các khoản thu nội địa trong phạm vi cả nƣớc bao gồm thuế (trừ thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu), phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc ngân sách Nhà nƣớc. Khái niệm nợ thuế “Nợ thuế là hiện tƣợng NNT không nộp đầy đủ và đúng hạn số thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật về thuế. Theo quy định tại khoản 1 mục III phần I của Quyết định 1401/QĐ-TCT Quy trình QLNT ban hành ngày 28/7/2015 của Tổng cục trƣởng Tổng cục Thuế, có quy định nhƣ sau: TTN là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do CQT quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhƣng đã hết thời hạn quy định mà NNT chƣa nộp vào NSNN” [18]. Từ xƣa tới nay lúc nào cũng xảy ra tình trạng NT tại các CQT bởi nhiều nguyên nhân khác nhau với STT nợ nhiều ít khác nhau với các sắc thuế khác nhau.
“Khoản nợ là số tiền thuế bắt đầu đƣợc tính nợ hay đƣợc gọi là bắt đầu phát sinh TTN. Theo Điều 3, Luật QLT năm 2019: TTN là tiền thuế và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan QLT quản lý thu mà NNT chƣa nộp NSNN khi hết thời hạn nộp theo quy định” [11]. Tại Điều 3, Luật QLT năm 2019 có đƣa ra một số khái niệm khác liên quan đến NT: - “Ngƣời NT: là các tổ chức, cá nhân thuộc ĐTNT còn nợ các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật. - Mức NT: là STT còn nợ của ngƣời NT tại một thời điểm, ở một ngƣ ng nào đó khi phân loại NT.
6 - Tiền chậm nộp: là khoản tiền đƣợc tính trên STT nợ và số ngày NT của một khoản nợ, số ngày NT của một khoản nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó đƣợc nộp vào NSNN, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của Bộ luật lao động” [11]. Đặc điểm nợ thuế - “Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến Đây là đặc điểm đầu tiên của NT do nó là hành vi tâm lý phổ biến của các ĐTNT, bởi: + Thứ nhất, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hƣởng đến lợi ích kinh tế của NNT. + Thứ hai, tình trạng trốn tránh nộp thuế hiện nay là tình trạng phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nƣớc khác trên thế giới. + Thứ ba, do đặc điểm của Việt Nam, khi mà trình độ nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận ngƣời dân chƣa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của việc nộp thuế” [4].
- Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế Theo quy định của NN, các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp phát sinh hoạt động kinh doanh hay các hoạt động khác nằm trong quy định phải đóng thuế đều là nghĩa vụ. Tuy nhiên, NNT thƣờng không muốn mất tiền, hao hụt tiền của mình nên trốn thuế, lách luật để không đóng thuế hoặc cố tình không nộp tiền thuế. Các trƣờng hợp này đều là vi phạm pháp luật. - “Nợ thuế chƣa hẳn là hành vi trốn thuế Nhƣ đã đề cập ở trên, NT là hành vi vi phạm pháp luật.
Hơn nữa, đây còn là hành vi dẫn đến việc đánh giá hành vi trốn thuế của NNT. Nhiều DN, cá nhân, HKD do gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, không có tiền nộp thuế nên nợ. Vì vậy, không phải tổ chức, cá nhân nào NT cũng là trốn thuế mà do những nguyên nhân khách quan mang đến. - Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế 7 Khác với hành vi trốn thuế, tránh thuế là hành vi lợi dụng sơ hở của pháp luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế phải nộp.
Đây không phải là hành vi vi phạm pháp luật mà là hành vi lợi dụng những kẽ hở, những điểm chƣa rõ ràng trong pháp luật về thuế để làm lợi cho mình và nó xuất phát từ những nhƣợc điểm trong hệ thống pháp luật về thuế của quốc gia đó” [3].