CHƯƠNG I TỔNG QUAN LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT 1. Khái niệm về quản lý, quản lý đất đai, giao đất, cho thuê đất 1. Khái niệm về quản lý Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhầm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động. Khái niệm về quản lý đất đai Quản lý đất đai (Land administration - địa chính): Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: Là quá trình lưu giữ và cập nhật những thông tin về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và những thông tin khác liên quan đến đất.
(Land administration guidelines - 1996) - chỉ dẫn về quản lý hành chính đất đai. Là quá trình đảm bảo theo luật pháp cho việc sử dụng, phát triển quỹ đất, khai thác lợi nhuận thu được từ đất (thông qua thuế, cho thuê, bán) và giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai. Đối tượng quản lý đất đai liên quan đến cả 2 đối tượng đất công và đất tư bao gồm các công việc: đo đạc đất đai, đăng ký đất đai, định giá đất đai, giám sát sử dụng, lưu giữ và cập nhật các thông tin đất đai, cung cấp các thông tin đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai. Quản lý đất đai (Land management): là quản lý tài nguyên đất, được xem xét trên cả phương diện môi trường và kinh tế.
Khái niệm giao đất, cho thuê đất Theo lý luận về địa tô1: Các nghiên cứu về địa tô ở nước ta chủ yếu tiếp thu lý luận kinh điển về địa tô của C.Ricacdo và dừng lại ở các khái niệm chủ yếu về địa tô, địa tô chênh lệch (địa tô sai ngạch); địa tô tuyệt đối. Lý luận về địa tô được vận dụng trong việc xây dựng chính sách, pháp luật đất đai (sở hữu đất đai) và thuế sử dụng đất nông nghiệp (trước khi có Luật Đất đai 1993) cũng như giá đất và định giá đất (từ khi có Luật Đất đai 1993). Nghiên cứu về địa tô, một số công trình nghiên cứu của xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại, trên cơ sở 1 Tôn Gia Huyên (2008) Chính sách đất đai với sử dụng đất bền vững hiệu quả 6 kế thừa và phát triển lý luận kinh điển về địa tô của C.Ricacdo đã xác định: “Địa tô sai ngạch trong xã hội tư bản chủ nghĩa ngày càng trở nên quan trọng; tương ứng như vậy, sự hình thành địa tô mà đại bộ phận là do sự độc chiếm vị trí tạo ra.Trong xã hội tư bản của chủ nghĩa hiện đại, người có quyền sở hữu đất đai và nhà tư bản là một. Tư bản hoá ròng, quyền sở hữu đất đai thúc đẩy mục tiêu phấn đấu của người sở hữu đất đai là địa tô lớn nhất có thể thực hiện được trong tương lai.
Nếu một thị trường đất đai lấy mức địa tô cao nhất có thể đạt được trong tương lai làm chiến lược thì sẽ buộc mỗi người sở hữu phải tìm cách chuyển đất vào hình thái sử dụng có thể sản sinh được địa tô cao nhất. Đó là một loại thủ pháp sáng tạo địa tô điển hình, đồng thời cũng là nguyên nhân làm cho rất nhiều đất đai buộc phải tìm cách thay đổi mục đích sử dụng, vấn đề đất đai cơ bản mà xã hội tư bản hiện đại gặp phải không phải là thị trường đất đai thiếu vốn; trái lại, là ở chỗ vốn đã tập trung quá nhiều vào thị trường đất đai. Phương pháp tránh đầu cơ đất đai: Để đạt được việc ngăn chặn nguồn vốn tập trung vào thị trường đất đai, phải làm cho tổng số thuế chiếm giữ đất đai và giao dịch đất đai đủ lớn để lợi ích từ việc mua bán chuyển dịch đất đai không lớn hơn lợi nhuận mà các ngành khác không phải là đất đai thu được”2. Theo đó, các Nhà nước hiện đại ngày nay đều xây dựng hệ thống pháp luật để bảo vệ và thực hiện việc quản lý địa tô.
Ở Việt Nam, hình thức giao đất, cho thuê đất là một trong các nội dung thể hiện vai trò của Nhà nước điều tiết địa tô. Theo pháp luật đất đai hiện hành: khái niệm giao đất, cho thuê đất được hình thành từ nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Theo đó, một trong các quyền của đại diện chủ sở hữu đất đai (Nhà nước) thực hiện với người dân là Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất. Sau khi được trao quyền sử dụng đất, người dân hoặc tổ chức trở thành người sử dụng đất và thực hiện các quyền sử dụng của mình đối với đất đai theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, giao đất và cho thuê đất không phải là một khái niệm đồng nhất mà nó là hai hình thức trao quyền sử dụng đất khác nhau mà 2 Lý Thừa Gia, Phó giáo sư Khoa Địa chính, Đại học quốc lập Trung Hưng, Đặc trưng địa tô của xã hội tư bản hiện đại và cốt lõi của vấn đề chính sách đất đai. Lý luận về địa chính hiện đại, Bản dịch Tôn Gia Huyên. 2003 7 Nhà nước (đại diện chủ sở hữu) trao cho các cá nhân hoặc các tổ chức có nhu cầu sử dụng. Khái niệm giao đất Trong mối quan hệ với tổng thể hệ thống pháp luật về đất đai, giao đất là một nội dung của quản lý Nhà nước về đất đai, mà ở đó, Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của người được công nhận.
Thông qua cơ chế giao đất, Nhà nước không chỉ xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm căn cứ pháp lý để giải quyết mọi quan hệ đất đai đúng pháp luật mà còn làm cơ sở pháp lý để người sử dụng đất thực hiện các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn, bảo lãnh quyền sử dụng đất theo pháp luật, phù hợp với sự vận động vốn có của quan hệ đất đai trong thực tiễn cuộc sống. Với mục đích là bảo đảm cho tài nguyên đất đai được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích, mang lại hiệu quả cao, chính sách giao đất đã tạo điều kiện cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư vốn, công sức nhằm khai thác tối đa tiềm năng đất đai, cải tạo đất đai, phát triển sản xuất, thực sự coi đất như tài sản của mình và không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Nghiên cứu khái niệm về giao đất, với khái niệm được nêu trong khoản 1, Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 như sau: “Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất"3. Theo đó, chủ thể của quan hệ pháp luật này là Nhà nước và người có nhu cầu sử dụng đất (bao gồm các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân).
Căn cứ vào chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai mà pháp luật đất đai hiện hành còn có một số khái niệm cần phân biệt như: khái niệm công nhận như giao đất, giao lại đất, giao đất để quản lý; giao khoán/khoán. Cụ thể là: Công nhận như giao đất: Trong quá trình sử dụng đất, người sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, nếu đủ điều kiện của pháp luật thì được cấp giấy chứng nhận và trên giấy chứng nhận đó có ghi nội dung về 3 Khoản 1 Điều 4 Luật Đất đai 2003 8 hình thức sử dụng đất là công nhận như giao đất có thu tiền sử dụng hoặc công nhận như giao đất không thu tiền sử dụng. Trong trường hợp này, về bản chất không phải là Nhà nước giao đất nhưng người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ như người sử dụng đất được Nhà nước giao đất. Giao đất để quản lý: là hình thức Nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức do Nhà nước thành lập có trách nhiệm quản lý mà không được trực tiếp sử dụng đất như Ủy ban Nhân dân cấp xã (quản lý đất xây dựng các công trình công cộng của địa phương); Tổ chức phát triển quỹ đất (do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh thành lập, được giao quản lý quỹ đất do Nhà nước thu hồi đất).
Giao khoán/khoán: Là khái niệm sử dụng đối với các tổ chức được Nhà nước giao đất để quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng (trước đây là các nông trường, lâm trường quốc doanh), sau đó các tổ chức này giao khoán theo hợp đồng cho hộ gia đình, cá nhân để trồng rừng, bảo vệ rừng (thực chất giao khoán là hợp đồng dân sự, kinh tế). Khái niệm cho thuê đất Cho thuê đất là hình thức Nhà nước hoặc các chủ sử dụng đất tạm chuyển quyền sử dụng đất của mình cho các chủ thuê đất thông qua hợp đồng thuê đất, phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành. Với quan niệm đó, đề tài nghiên cứu vấn đề cho thuê đất theo nội dung được quy định tại khoản 2, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003 như sau: “Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất "4. Như vậy, thuê đất được hiểu là quyền của người sử dụng đất.
Đây là một loại quan hệ pháp luật về đất đai trong đó có một bên là người sử dụng đất và một bên là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Nếu việc sử dụng đất do Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc người sử dụng đất nhận chuyển quyền sử dụng đất từ người khác thì người sử dụng đất có toàn quyền sử dụng mảnh đất đó. Quá trình người sử dụng đất thực hiện quyền cho thuê thì gọi là “cho thuê”; Nếu việc sử dụng đất do Nhà nước cho thuê đất thì quá trình người sử dụng đất thực hiện quyền cho 4 Khoản 2 Điều 4 Luật Đất đai 2003 9 thuê được gọi là "cho thuê lại". Với các quy định cụ thể, trong những năm qua, pháp luật về thuê đất của Nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý cho đất đai được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích, có hiệu quả; đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các đối tượng, đặc biệt là cá nhân, tổ chức người nước ngoài.
Qua đó, góp phần thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài để xây dựng các cơ sở hạ tầng, các cơ sở kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.