CHƯƠNG 1. TONG QUAN VE VAN DE NGHIÊN CỨU 1.1 Phân loại cấp đê Để là công trình ngăn nước lũ của sông hoặc ngăn nước biển, được cơ quan Nha nước có thẳm quyền phân loại, phân cấp theo quy định của pháp luật. Hệ thống đề điều gồm các công trình đề, kẻ, bảo vệ đề, cổng qua đề và công trình phụ trợ. [4] Phin loại và phân cấp đề ~ Để được phân loại thành để sông, để biển, để cửa sông, để bối, để bao và để chuyên dùng ~ Dé được phân cấp thành cấp đặc biệt, cáp 1, cáp II, cấp II, cấp IV và cấp V theo mức độ quan trong từ cao đến thp Tiêu chí phân cắp để bao gồm: - Số dân được dé bảo vệ; Tâm quan trọng vé quốc phòng, an ninh, kỉnh xa hội: ~ Đặc điểm lũ bão của từng vùng; - Điện tích và phạm vi của địa giới hình chính; - Độ ngập sâu trung bình của các khu dan cư so với mực nước lũ thiết kế; + Lưu lượng lũ thiết kế 1.1 Sơ lược lịch sử hành thành và phát trién của hệ thống để điều Hà Nội Theo sử sách ghi chép lại.
các vùng đất ven sông là nơi tập trung dân cư đầu. tiên của xã hội loài người, ví dụ vùng ven sông Nin ở Ai Cập, sông Hoàng Hà ở Trung Quốc, sông Hằngở An Độ và vùng ven sông 1g ở Việt Nam. Dòng sông và ving bãi bồi ven sông đã đem lại nhiều điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của con người. Sông cung cấp nước ăn và sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là đường thủy thuận tiện cho giao lưu giữa ving này với vùng khác.
Vùng bãi ven sông trong châu thổ hình thành tir bồi tích của các sông la những vũng đất mẫu mỡ. Bãi sông bằng phẳng, đễ canh tác, hàng năm vào mùa lũ luôn được cung cấp thêm nguồn phủ sa tươi tốt. Những yếu tố thuận lợi trên đã dần dan lôi kéo ngày. cảng nhiều dân cư đến sinh sống trên vùng bãi ven sông.
Tuy vậy các vùng bãi ven sông đều là vùng tring, thấp, vi vậy những người đến cư trú trên vùng bãi ven sông.đã phải đối pho với lũ trần hang năm. Ban đầu dé tránh lũ, người dân chon các bãi cao hoặc lâm nhà sản để ở và sain xuất nông nghiệp. Thường chỉ trồng một vụ trong mùa khô, Mùa lũ khi nước ngập bai, đàn gia súc chăn nuôi được chuyển đến những vùng cao vi dân chuyển. sang nghề đánh cá.
Ít lâu sau tuyến đê bao được xây dựng nhằm ngăn lũ để gieo tring thêm vụ hoa mẫu thứ hai và kéo dai thai gian chăn thả gia súc. Mới dầu đê bao chỉ ngăn được lũ nhỏ, sau dé nâng cao din dé chống chọi với lũ lớn. liền bãi không bị ngập, dân bắt đầu trồng cây lâu năm và xây nhà ở vững ch inh trên đất bãi ven sông. Quá trình này kéo dài trong nhiều thể kỷ:|7] Hinh 1.
Công trình đê ở luyện Từ Liêm, Hà Nội (Qué trình hình thành và xây dụng hệ thông để điều Hà Nội gắn iễn với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Hệ thông đê sông ban đầu được hình. thành từ các gờ đất ven sông. Những năm nước lớn, cúc gờ sông không di sức ngăn lũ, nước tràn qua gờ ngập vào đồng bằng.
Dé giữ được nước nhân dân đã giữ những. gờ dit làm cốt và tôn cao din lên thành để và hoàn chỉnh din bằng cúc công qua để Sn định cả mùa khô lẫn mùa lũ. Gặp những năm lũ lớn, những chỗ xung yếu bị tran hoặc bi vỡ đã được quai Iai hoặc nhô ra phía sông hoặc li vào phía đồng trình hỗ 10 xôi sâu. Do diễn biển dang chảy và xu thé dòng sông và những con lũ lớn làm cho bờ xói lở, nên nhân dân tim cách báo vệ để không bị sat lở.
Hệ thống để kẻ từng bước được hình thành. Qué trình hình thành và phát triển của hệ thống đê điều trải qua sáu thời kỳ quan trọng như trong hộp Ì Hộp l: ui trình hình thành và phát triển của hệ thống dé đi 1) Thời kỳ cổ và trung đại Sông Hing đã tạo ra đồng bing mẫu mỡ. Nhưng cũng sông Hồng nhiều lần tin phá những gì mà con người tạo dung lên trên chính dải đồng bằng Ấy. Hàng năm vio mia mưa, ã sông Hồng nhiều phen cuba sạch di mọi thành quả xây đắp của con người.
Cho nên từ khi con người có mặt ở đồng bằng nảy là có việc trị thuỷ. Chuyện Sơn Tinh ~ Thuỷ Tinh là nh hồi quang của cuộc vận lộn giữa con người và ạt, được đặt vio thời các Vua Hùng, tức vào khoảng 20 thé kỷ trước công nguyên. Tự iệu cỗ nhất có lẽ là may dng gh trong sich TiỀn Thư Hin tức bộ sử đời Tiên Hán (thé kỹ thứ 2 t. CN đến đầu công nguyên) mà Nguyễn Siêu đã dẫn trong bài điều trần cũa ông v điều: "Phía Tả bắc huyện Long Biền quận Giao Chỉ đã có để giữ nước sông " Quận Giao Chi là Bắc Bộ ngày nay, huyện Long Biên có thể là khu vực Bắc Ninh, Hà Nội ngày nay.
Như vậy, đến đầu công nguyên vùng. Ha Nội đã có đ diều 2) Thời kỳ cận đại Sau hiệp ước Quý Mùi (1883) và hiệp ước Patanốt (1885) nước ta hoàn toàn chịu sự bảo hộ của thực dân Pháp. Ngày 28/6/1895 toàn quyền Đông Dương Rưsô (Rousseau) ra nghị định thành lập Uy ban đê điều tối cao (Commission Supericureder digues) tại Hà Nội. Nhiệm vụ nghiên cửu tổng thể mạng lưới để diều hiện có ở Bắc Kỳ.
Đệ trình lên toàn quyền Đông Dương những dự án có liên quan. An các quy chế kỹ thuật và quản lý để điều. Uy ban này được nhóm hop vào các năm 1896, 1904, 1905 1906, 1915, 1926 Trong những năm 1884 đến 1915 (theo Góchiẽ) khối lượng dip để toàn Bắc Ky khoảng 12 triệu mÙ. Những dự án về dip đê, thoát lũ trong thời kỳ thuộc Pháp.
đều với mục đích bảo vệ Hà Nội khỏi bị ngập lực. Nhờ vậy lũ lich sử 1945, 52 đoạn .đê trong vũng đồng bằng Bắc bộ bị vỡ nhưng đề Hà Nội vẫn đứng vững. 3) Phát triển và củng cổ dé điều Hà Nội sau năm 1945 Sau năm 1945 đất nước ia giành được chính quyền. Ngay từ ngây đầu chính quyền nhà nước ta đã phải khắc phục hậu quả của lũ lụt và nạn đối do lũ ht và chiến tranh gây ra, dip lại những đoạn đê đã bị vỡ, LiỄn sau đó bước vio cuộc kháng chiến trường kỳ suốt 9 năm.
Hà Nội nằm trong vùng bị dich tạm chiếm. Vào thời kỹ đó để u không những không được quan tâm đúng mức mà còn bị phá hoại và sử dụng vio mục đích quân sự như xây dụng him ny + lô cốt trên để. Đảo xế mặt để để ng xe cơ giới. Trong thổi gia từ 194s quyền thực dân Pháp trong vùng tạm chiếm chỉ sang sửa và cũng cổ một số kề có ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của đê như kè Phú Gia.
Do đó tình hình đê điều năm 1954: gin 9km để sông Hồng thuộc Thanh Trì nhỏ, mặt để chỉ rộng 3 m, gồ ghé trơn trượt hơn khi mưa. Con chạch chỉ rộng từ 1,5 đến 2 m, mái dé không đủ độ thoải. Hồ ao hai bên ven đề nhiễu, hậu quả của những trận vỡ để từ xa xưa. Để Từ Liêm vừa nhỏ vừa yếu, độ cao không đều.
Gia Lâm đã phải chống lũ cho hai tiễn sông, nhưng dé hẳuhết mặt cắt nhỏ, nước thẩm lậu mái để rit nhiều, có nhiều sii đục sat chân đê. Để Nội Thành có khá hơn, nhưng chit lượng không đồng đều, nhiều tap chất xi than, đắt phong hoá. Theo đánh giá chung hệ thống dé chỉ chống. đỡ được mực nước lũ +12.00 tại Hà Nội 4) Cũng cổ để giai đoạn 1954 - 1965 Sau khi Hà Nội tiếp quản 10/1954, tháng 12/1954 huyện Thanh Trì đã dip con chạch cao hơn 0,5 m, rộng thêm Im, khối lượng trên 1 vạn mét khối.
Đầu năm 1955 Thanh Tri dip dé đoạn Khuyến Lương, Gia lâm đắp ở đoạn Long Biên, Cự Khôi, Đông Dư, Gia Quit, gi cổ thêm vũng chắc nhũng nơi có tổ mỗi, Từ Liêm tu sửa hai kẻ Thụy Phương-Phú Gia. Ngoài đê chính, huyện Thanh Tri đắp tuyến dé tối bao 7 xi: Thanh Trả, Linh Nam, Trần Phú, Yên Sở, Yên Mỹ, Duyên Hà, Vạn Phúc, với điện tích 2000 ha, dài 14,5 km, mặt rộng từ 3 m đến 4 m, cao trung bình 2 m khối lượng trên 17 vạn mét khôi. Từ năm 1958 đến 1961 toàn Thành phổ đã huy động lực lượng dip đê khối lượng 1.000m', tu bổ kề khối lượng 29.000m" đá các loại, ước tính 1,4 triệu ngày công. Sau năm 1961 thành ph Hà Nội mổ rộng, hệ thống đ điều tăng lên 110km, 16 kẻ, 38 cống các loi.
Công tác xây dựng và cũng cổ để vẫn được tiến hành đều đạn từng nim. Gia Lâm ip tuyến đề sông Duồng đoạn Thôn Nha, Hàn Lạc, Đẳng Viên, ké Sen Hồ, Gia Thượng. Thanh Trì dip đoạn Thanh Lương. Từ Liêm tu bỗ dé "Nhật Tân, Phú Gia.
Đông Anh kè Xuân Canh, Nhà máy gạch. Sau nhiều năm lũ nhỏ. Năm 1964 lũ lên vượt báo đội (411. Đề Hà Nội bộc lộ rõ nhié khuyế tật, voi đục ở Thôn Nha, bãi sii ở hạ lưu kè Sen Hỗ, ha lưu kè Đông Vi n (Gia Lâm), các vòi nước ở hạ lưu đề Nhật Tân, Phú Thượng, Nghỉ Tâm (Từ Liêm), để Bung (Thanh Trì), Thành phố đã phải xử lý ngay mùa lũ và sau khi lũ rút đã kịp thời củng cố đoạn dé này.
Từ Liêm cũng cổ toàn tuyến từ Thượng Cát đến Nghỉ Tam dài 12,5 km, với khối lượng ngót 10 vạn mét khối, di chuyển 250 hộ dân ven đề, huy động mỗi ngày 2000 dân công. 1965 toàn Thành phố đã dap trên 2,1 triệu mét khối đất cũng cổ, 8.000m' đá các Jogi vio kề và huy động trên 2 triệu ngày công cho công tác cũng PCLB. 5) Cũng cổ để diễu chống địch phá hoại gai đoạn 1966 ~ 1914 Hệ thống đê điều Hà Nội nhằm bảo vệ chống lũ lụt cho Thủ Đô và những. vũng động dân ew, có nhiễu công tinh văn hoá kỹ thuật và quân sự vào bậc nhất cả nước.
Để quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miễn Bắc. Một trong những mục tiêu phd hoạ là hệ thống để điều. Giải đoạn này để điều không chỉ để phòng, chống lĩ mã còn có nhiệm vụ phòng chống địch phá dé. Đặc biệt quan trọng là tuyến để hữu.
Hồng, trong đó 06 để huyện Từ Liêm. Đó là đoạn đề phía Tây Bắc, thượng lưu đoạn sông Hồng chảy qua Thành phố. Tháng giêng 1966 dip đoạn dài Ikm bao quanh.