ĐẶT VẤN ĐỀ Theo số liệu công bố hiện trạng rừng năm 2015, tổng diện tích có rừng của nƣớc ta là 14,062 triệu ha; trong đó rừng tự nhiên 10,176 triệu ha, rừng trồng 3,886 triệu ha, độ che phủ rừng đạt 42,5%. Để có đƣợc diện tích rừng trồng nhƣ trên có sự đóng góp của nhiều dự án phục hồi rừng đã và đang đƣợc thực hiện trong vài thập kỷ qua với nguồn vốn của Chính phủ và các nhà tài trợ Quốc tế nhƣ: dự án 327, dự án 661, dự án PAM (Chƣơng trình lƣơng thực thế giới), dự án ADB (Ngân hàng phát triển châu Á), dự án WB (Ngân hàng thế giới), dự án GEF (Quỹ môi trƣờng toàn cầu), dự án JICA (Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản), dự án KfW (Ngân hàng Tái thiết Đức)…. Một trong những dự án đƣợc đánh giá là có hiệu quả và đƣợc công nhận rộng rãi trong ngành lâm nghiệp Việt Nam đó là các dự án KfW. Hiệu quả đầu tƣ của các dự án KfW rất cao, bên cạnh việc hỗ trợ nông dân nâng cao đời sống đối với đồng bào dân tộc ít ngƣời ở vùng sâu vùng xa, dự án đã góp phần hạn chế sự đe dọa tới môi trƣờng sinh thái, góp phần nâng cao dân trí, giúp cho ngƣời dân có cách nhìn mới về sản xuất lâm nghiệp bền vững.
Bên cạnh các dự án khác của ngành, các dự án KfW lâm nghiệp đã góp phần vào thực hiện chƣơng trình trồng mới 5 triệu ha rừng cũng nhƣ chƣơng trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp (FSSP), đã ký giữa Bộ Nông nghiệp và PTNT với các nhà tài trợ. Đồng thời góp phần quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phục hồi và phát triển rừng đã nêu trong “Chiến lƣợc phát triển ngành Lâm nghiệp đến năm 2020”. Huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đƣợc đánh giá là huyện thực hiện dự án “Trồng rừng tại các tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An” gọi tắt là KfW4 do Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) tài trợ không hoàn lại đạt hiệu quả cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Dự án đƣợc triển khai trên địa bàn huyện từ năm 2003 và có 09 xã đƣợc lựa chọn tham gia đó là: xã Thạch Cẩm, Thành Minh, Thành Mỹ, Thành Vinh, Thành Yên, Thành Công, Thành Trực, Thành Tân và xã Thành Vân.
Mục tiêu của dự án: Góp phần vào chƣơng trình trồng rừng và bảo vệ đất đai thông qua việc giúp ngƣời nông dân sử dụng đất có hiệu quả và đảm bảo bền vững về sinh thái, đồng thời tạo việc làm và nâng cao mức sống cho ngƣời dân trong vùng dự án. Hiện tại các nội dung của dự án đã cơ bản hoàn thành nhƣ: quy hoạch sử dụng đất, điều tra lập địa, đo đạc diện tích, tạo cây con, trồng và xúc tiến tái sinh tự nhiên, xây dựng hệ thống đƣờng tuần tra. Hầu hết các giải pháp này đều rất chú trọng tới khâu kỹ thuật lâm sinh. Đƣơng nhiên để thực hiện đƣợc mục tiêu của dự án không thể chỉ chú ý tới mặt kỹ thuật mà cần tạo ra môi trƣờng thuận lợi để rừng có thể phát triển bền vững.
Côn trùng là một thành phần không thể thiếu đƣợc của hệ sinh thái rừng với các mặt tích cực nhƣ góp phần thụ phấn cho nhiều loài cây, cung cấp dinh dƣỡng cho các loài động, thực vật, thúc đẩy tuần hoàn vật chất, kìm hãm các sinh vật gây hại, góp phần tạo nên cân bằng sinh thái. Côn trùng cũng có thể tạo ra những ảnh hƣởng tiêu cực khi chúng có cơ hội phá hại, nhất là khi cây đƣợc tái sinh nhân tạo hoặc phải sống trong một môi trƣờng đặc biệt sau khi rừng đƣợc xử lý bằng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhƣ tỉa thƣa, luỗng phát, trồng xen. Chính vì vậy nên quản lý tốt các loài côn trùng sẽ góp phần tích cực vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển rừng bền vững. Tuy nhiên cho đến nay các nghiên cứu về côn trùng trên diện tích rừng của dự án KfW nói chung và dự án KfW4 huyện Thạch Thành nói riêng còn rất hạn chế.
Để có thể đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học côn trùng rừng dự án KfW4, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý côn trùng tại khu vực rừng trồng thuộc dự án KfW4 huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về quản lý côn trùng trên thế giới Trên thế giới những nghiên cứu về sâu bệnh hại nói chung, sâu bệnh hại cây lâm nghiệp nói riêng rất phong phú. Đó là các nghiên cứu cơ bản về sinh học, sinh thái học của các loài sâu, bệnh hại và các biện pháp phòng trừ trong đó có những nghiên cứu về côn trùng có ích, nấm có ích, biện pháp sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích theo hƣớng quản lý sâu bệnh hại tổng hợp.
Theo Wilson (1988), tổng số các loài sinh vật đã đƣợc biết trên trái đất là 1. Trong đó, côn trùng có 751. Ngƣời ta dự đoán còn khoảng 3 - 4 triệu loài hoặc hơn nữa chƣa đựơc con ngƣời biết đến, chủ yếu là những loài côn trùng sống ở vùng nhiệt đới (Whitmore, 1990). Ngƣời ta dự đoán số loài côn trùng chƣa đƣợc biết đến trong rừng nhiệt đới ƣớc tính từ 5 - 30 triệu (May, 1992); con số 10 triệu có thể coi là tạm chấp nhận và đƣợc sử dụng trong tài liệu hiện nay, và nếu con số 10 triệu là chính xác thì điều đó có nghĩa là số lƣợng côn trùng tìm thấy tại các vùng nhiệt đới chiếm đến trên 90% số loài sinh vật trên trái đất.
Khi đánh giá vai trò của côn trùng đều có 2 mặt cơ bản, mặt tích cực và mặt tiêu cực, vai trò tích cực của côn trùng có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp và ngay cả mức độ rộng hẹp cũng có biên độ rất khác nhau tuỳ theo quan niệm của con ngƣời.Về việc quản lý sâu bệnh hại, từ những năm 70 của thế kỷ 20 đến nay có nhiều nghiên cứu, kết quả nghiên cứu của các công trình trong lĩnh vực này có thể tóm lƣợc nhƣ sau: Các tác giả Watson, More (1975) trong “Sổ tay chỉ dẫn về thực tiễn quản lý sâu bệnh hại tổng hợp (IPM)” đã đƣa ra hƣớng dẫn sử dụng kỹ thuật sẫn có để hạn chế thiệt hại về mặt kinh tế cho hệ sinh thái nông nghiệp. Năm 1984, Neisses, Garner, Havey đã thảo luận về việc ứng dụng phƣơng pháp phòng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 trừ sâu bệnh hại tổng hợp trong kinh doanh lâm nghiệp ở Mỹ. Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh sự cạnh tranh giữa các loài sâu bệnh hại (chủ yếu là sâu hại) và các loài cỏ dại có thể là nhân tố có tác dụng trong việc quản lý sâu bệnh hại. Ravlin, Haynes 1987 đã sử dụng phƣơng pháp mô phỏng trong quản lý côn trùng ký sinh phục vụ phòng trừ sâu hại họ Ngài khô lá.
Mô hình mà họ sử dụng là sự phối hợp giữa số liệu điều tra ngoài thực địa về mật độ sâu hại, xu hƣớng phát triển của quần thể, mức độ ký sinh và nhiệt độ. Đây là phƣơng pháp sử dụng thiên địch để diệt trừ sâu hại nên không có ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng đơn độc một phƣơng pháp này thì không mang tính tổng hợp và hiệu quả thì rất ngắn. Các nghiên cứu đáng chú ý về côn trùng trong khu vực là các công trình nghiên cứu của Trung Quốc.
Năm 1987, Thái Bàng Hoa và Cao Thu Lâm đã công bố công trình phân loài côn trùng rừng Vân Nam. Tài liệu tham khảo quan trọng để phân loại các loài bƣớm ngày là sách chuyên khảo của Cố Mậu Bân, Trần Bội Trân (1997) [69]. Các nghiên cứu cơ bản về hình thái, tập tính của các loài sâu hại cây lâm nghiệp có thể tìm thấy trong tài liệu “Côn trùng rừng”, Lý Thành Đức, 2006 [71], của các loài côn trùng thiên địch trong “Sách bằng hình ảnh côn trùng thiên địch” [75], Viện Lâm nghiệp Tây Nam (2003), “Bọ rùa Vân Nam” [80]. Năm 1989, Coulson, Sauders, Loh, Oliveria, Barry Drummond và Swain đã có những chuyên đề và chƣơng trình nghiên cứu về quản lý côn trùng hại rừng.
Thông qua các chƣơng trình, từng bƣớc hoàn thiện IPM. Các chƣơng trình đã gắn sự hiểu biết về môi trƣờng với sự trợ giúp của kỹ thuật vi tính để IPM giải quyết những vấn đề tồn tại và đƣa ra quyết định thực hiện phù hợp với việc quản lý sâu hại lâm nghiệp và có thể cho cả nông nghiệp. Năm 1991, Goyer trong “Phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp cho loài sâu ăn lá thuộc miền Nam nước Mỹ” cho rằng: Điều tra thƣờng xuyên thực trạng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 sâu ăn lá rừng là rất quan trọng cho chiến lƣợc sử dụng IPM. Ông chỉ ra việc sử dụng Pheromone để bẫy bắt mẫu vật để từ đó tính ra mật độ loài là rất quan trọng, ông cũng đã phê phán việc sử dụng thuốc hoá học truyền thống đã gây ảnh hƣởng lớn đến kinh tế và môi trƣờng, đồng thời làm giảm ĐDSH của hệ động vật rừng.
Raske, Wickman trong “Hướng quản lý sâu bệnh hại tổng hợp ở rừng rụng lá” đã khẳng định: - Hiện nay IPM ở các nƣớc khác nhau là khác nhau với từng vật gây hại cụ thể. - Sự đóng góp của IPM có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tế. - Các vấn đề kinh tế, xã hội (bao gồm cả chiến lƣợc của các chính phủ) là rất quan trọng đối với IPM. Năm 1994, Evans, Fielding trong chƣơng trình phòng chống loài Dendrotonus micans hại vỏ cây Vân sam ở Anh đã nêu lên cơ sở của việc phòng chống loài sâu này đó là sự phối hợp các biện pháp quản lý rừng nhƣ chặt vệ sinh rừng, vận chuyển nhanh sản phẩm khai thác và phƣơng pháp sinh học nhƣ sử dụng hổ trùng ăn thịt Rhizophogus nhập nội, chăm sóc và thả vào rừng.
Hiện nay số lƣợng loài sâu này đã giảm đi rõ rệt chứng tỏ tác dụng tích cực của loài Rhizophogus grandis là rất tốt, việc nhân rộng loài này là nhân tố quan trọng để điều chỉnh mật độ loài Dendrotonus micans. Kết quả các nghiên cứu trên đã góp phần làm giàu kho tàng kiến thức quản lý côn trùng. Tuy nhiên, ở mỗi loài sâu hại, mỗi loài cây và mỗi quốc gia khi vận dụng cần phải sáng tạo và đặt yêu cầu thực tiễn cụ thể của từng khu vực lên hàng đầu.