Chương 1: Cơ sở lý luận về phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại ngân hàng thương mại * Chương 2: Thực trạng phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Giang * Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Giang * Kết luận * Tài liệu tham khảo 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU 1. Thanh toán xuất nhập khẩu và vai trò của nó trong hoạt động ngoại thƣơng và trong nền kinh tế Thanh toán xuất nhập khẩu là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện thanh toán quốc tế trong quan hệ thanh toán giữa các nƣớc. Các vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ mà các bên đề ra để giải quyết và thực hiện, đƣợc quy định lại thành những điều kiện gọi là các điều kiện thanh toán quốc tế.
Nó đƣợc thể hiện trong các điều khoản thanh toán của các hiệp định trả tiền ký kết giữa các nƣớc, các hiệp định thƣơng mại, các hợp đồng mua bán ngoại thƣơng, ký kết giữa ngƣời xuất khẩu và ngƣời nhập khẩu. Đối với ngƣời xuất khẩu, hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu phải đạt các mục đích: Đảm bảo chắc chắn thu đƣợc đúng, đủ, kịp thời tiền hàng và trong điều kiện cụ thể càng nhanh càng tốt. Đảm bảo giữ vững giá trị thực tế của số ngoại tệ thu đƣợc khi có những biến động xảy ra. Góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, củng cố và mở rộng thị trƣờng đã và đang có, tìm kiếm phát triển thị trƣờng mới.
Đối với ngƣời nhập khẩu, hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu phải đạt các mục đích: Đảm bảo chắc chắn nhận đƣợc hàng đúng số lƣợng, chất lƣợng và đúng thời hạn. Trong điều kiện các chi tiết khác không thay đổi thì thanh toán tiền hàng càng chậm càng tốt, góp phần làm quá trình nhập khẩu theo đúng yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân. 5 Ngày nay, TTXNK đã trở thành không thể thiếu và giữ một vai trò khá quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thƣơng. * Trƣớc hết, thanh toán xuất nhập khẩu là đòi hỏi tất yếu khách quan trong phát triển kinh tế.
Với sự gia tăng mạnh mẽ của các hoạt động giao lƣu quốc tế, các nƣớc không thể chỉ bó hẹp các hoạt động kinh tế của mình trong phạm vi quốc gia mà phải tham gia vào các hoạt động kinh tế trong khu vực và toàn cầu. Điều đó tất yếu làm phát sinh các mối quan hệ giữa ngƣời mua và ngƣời bán, ngƣời cho vay và ngƣời nợ, ngƣời đầu tƣ và ngƣời nhận đầu tƣ trên phạm vi quốc tế. Nhu cầu trao đổi hàng hoá xuất nhập khẩu tất yếu sẽ xảy ra đòi hỏi thanh toán xuất nhập khẩu để giải quyết hài hoà các mối quan hệ. * Thanh toán xuất nhập khẩu là khâu quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu góp phần thực hiện giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu.
Khi quá trình thanh toán đƣợc đảm bảo thực hiện thì mới có sự chuyển dịch hàng hoá. Chính vì vậy, thanh toán là điều kiện cần để quá trình phân phối hàng hoá xảy ra, là cầu nối giữa ngƣời xuất và ngƣời nhập khẩu gắn liền với quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ giữa các bên. Việc thực hiện các điều kiện thanh toán có nghiêm túc hay không ảnh hƣởng tới uy tín và độ bền vững trong quan hệ mua bán giữa các bên trên thƣơng trƣờng. * Thanh toán xuất nhập khẩu là thƣớc đo, là nhân tố ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh.
Thanh toán xuất nhập khẩu ảnh hƣởng trực tiếp đến vòng quay của vốn sản xuất và kinh doanh, do vậy sẽ ảnh hƣởng tới doanh thu và lợi nhuận của các bên tham gia. Thông qua hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu mà ngƣời ta có thể đánh giá khả năng tài chính, uy tín cũng nhƣ tiềm lực của mỗi đơn vị kinh doanh. * Đặc biệt thanh toán xuất nhập khẩu là một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động đối ngoại của ngân hàng. Trong một giao dịch kinh tế bất kỳ, đều tồn tại hai bên cơ bản là ngƣời mua và ngƣời bán cùng với những quyền 6 lợi và trách nhiệm riêng của mỗi bên.
Trên thực tế, quá trình này diễn ra rất phức tạp vì nó gắn liền với lợi ích kinh tế của các bên tham gia, nhất là đối với các quan hệ ngoại thƣơng vì việc mua bán diễn ra giữa các đối tác thuộc các quốc gia khác nhau, với các thực thể chính trị về chủ quyền khác nhau, chịu sự chi phối của các quy chế mậu dịch, các điều kiện thƣơng mại khác nhau. Trong thực hiện giao dịch ngoại thƣơng, ngƣời xuất khẩu có thể gặp rủi ro xuất hàng mà không đƣợc thanh toán, hoặc thanh toán chậm do các nguyên nhân khách quan nhƣ chế độ chính trị của nƣớc nhập khẩu thay đổi, gặp thiên tai bất khả kháng trên đƣờng vận tải,. hoặc các nguyên nhân chủ quan nhƣ bị lừa lọc do không tìm hiểu kỹ đối tác, do hợp đồng ngoại thƣơng quy địch không chặt chẽ, rõ ràng.Ngƣợc lại, ngƣời nhập khẩu cũng có thể bị mất tiền mà không nhận đƣợc hàng hoá, hoặc không nhận đƣợc hàng đúng quy cách, phẩm chất, số lƣợng nhƣ trong hợp đồng đã ký kết, hoặc nhận hàng chậm bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, giá cả hàng hoá đó trên thị trƣờng biến động gây bất lợi cho họ. Khi các bên rơi vào hoàn cảnh nhƣ vậy, họ đều mong muốn đƣợc tham gia vào một cơ chế chuyển đổi vừa thuận tiện, vừa an toàn và đáng tin cậy cho cả hai bên.
Để có thể đạt đƣợc những vấn đề có liên quan đến lợi ích chung nhƣng đối kháng giữa các bên cả ngƣời mua và ngƣời bán thƣờng sẽ thống nhất chọn ra một bên thứ ba độc lập làm trung gian thanh toán có thể đảm bảo quyền lợi cho họ, đồng thời tạo điều kiện cho quá trình trao đổi, thanh toán đáp ứng đƣợc nguyện vọng của các bên, đó là các dịch vụ của ngân hàng. Ngân hàng là một tổ chức tài chính chuyên nghiệp có bề dày kinh nghiệm, có khả năng tài chính để tài trợ cho cả ngƣời bán và ngƣời mua bằng nguồn vốn tự có và huy động đƣợc của mình, có mạng lƣới và quan hệ rộng khắp, có công nghệ kỹ thuật tiên tiến sử dụng trong thanh toán, có thể tiến hành thanh toán xuất nhập khẩu nhanh chóng, thuận tiện và chính xác nhất. 7 Thanh toán xuất khẩu là một mặt trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu cũng nhƣ dịch vụ của các Ngân hàng thƣơng mại. Đấy cũng là hình thức để tài trợ ngoại thƣơng đối với các đơn vị xuất khẩu.
Hoạt động thanh toán xuất khẩu vững mạnh góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trƣờng, thu hút khách hàng, góp phần cải tiến và hỗ trợ cho các sản phẩm của ngân hàng, mở rộng quan hệ đối ngoại và tạo điều kiện để hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. Và ngƣợc lại, khi các nghiệp vụ huy động vốn, cho vay vốn kinh doanh tiền tệ,. hoạt động có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho thanh toán xuất nhập khẩu phát triển. Các hình thức tài trợ thƣơng mại gồm: * Tài trợ xuất khẩu dựa trên L/C bản chính.
Do áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng nhƣ việc chuẩn hóa và đa dạng các loại hình dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng, một số ngân hàng sẵn lòng thực hiện việc tài trợ cho khách hàng xuất khẩu trên cơ sở L/C bản chính (tức, ngân hàng thực hiện việc tài trợ khi nhà xuất khẩu chƣa có hàng hóa để gửi, chƣa gửi hàng hóa hoặc chƣa thiết lập và xuất trình bộ chứng từ). * Chiết khấu chứng từ xuất khẩu. Chiết khấu chứng từ xuất khẩu (hay tài trợ sau khi giao hàng) là một dạng chiết khấu chứng từ có giá, trong đó ngân hàng ứng trƣớc một khoản tín dụng cho ngƣời xin chiết khấu kể từ thời điểm chiết khấu cho đến lúc chứng từ đƣợc thanh toán bởi ngân hàng nƣớc ngoài. Đối với ngân hàng, việc quản lý khoản cấp tín dụng nhƣ vậy là rất quan trọng bởi lẽ ngân hàng phải gánh chịu rủi ro nếu số tiền chiết khấu không đƣợc hoàn lại.
Việc chiết khấu chủ yếu dựa trên mối quan hệ giữa nhà xuất khẩu và ngân hàng phục vụ mình, hoàn toàn không liên quan đến phía nhập khẩu, đặc biệt là ngân hàng phát hành. * Đòi tiền Ngân hàng hoàn trả. Về mặt nguyên tắc, ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phải thực hiện đúng các điều kiện của L/C trong việc đòi tiền 8 ngân hàng hoàn trả đƣợc chỉ định trong L/C. Ngân hàng hoàn trả thƣờng là chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nƣớc ngoài hoặc là ngân hàng có quan hệ tài khoản thanh toán với ngân hàng phát hành, và đƣợc ngân hàng phát hành chỉ định thanh toán cho ngân hàng đòi tiền - Claiming Bank.
* Bảo lãnh nhận hàng. Nghiệp vụ này khá phổ biến trong phƣơng thức thanh toán tín dụng chứng từ. Thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng phát hành phát hành thƣ bảo lãnh nhận hàng cho ngƣời yêu cầu mở L/C để họ đƣợc nhận hàng hóa trƣớc khi bộ chứng từ nhập khẩu hàng hóa, trong đó có chứng từ vận tải, đƣợc gửi đến. Bảo lãnh nhận hàng khi chƣa có vận đơn gốc thƣờng đƣợc ngân hàng thực hiện nhằm tạo thuận lợi cho ngƣời yêu cầu mở L/C nhận hàng khi họ đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu thanh toán.
Bảo lãnh này chỉ có tính tạm thời và không thể thay thế chứng từ vận tải. Xác nhận cho một L/C không thể hủy ngang có nghĩa là một ngân hàng khác (đƣợc gọi là Ngân hàng xác nhận - Confirming Bank) khác với ngân hàng phát hành cam kết chắc chắn về việc chấp nhận, thanh toán hay chiết khấu hối phiếu đƣợc ký phát bởi ngƣời thụ hƣởng cùng với các chứng từ thỏa mãn các điều kiện của L/C theo yêu cầu của ngân hàng phát hành qua “Confirmed L/C”, hoặc theo yêu cầu của ngƣời thụ hƣởng qua các loại L/C có điều khoản “Confirmation: May Add” (tức Open Confirmation) hoặc “Confirmation: Without” (tức Silent Confimation).