lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu theo 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cho vay có TSBĐ là BĐS của NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cho vay có TSBĐ là BĐS tại Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam- Chi nhánh Hà Nội. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cho vay có TSBĐ là BĐS tại Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam- Chi nhánh Hà Nội. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÓ TÀI SẢN BẢO ĐẢM LÀ BẤT ĐỘNG SẢN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG CHO VAY CÓ TÀI SẢN BẢO ĐẢM LÀ BẤT ĐỘNG SẢN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và sự cần thiết của tài sản bảo đảm 1. Khái niệm tài sản bảo đảm Theo khoản 7 điều 3 nghị định 163/2006/NĐ-CP TSBĐ là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm. TSBĐ do các bên thỏa thuận và thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng của bên có nghĩa vụ hoặc của ngƣời thứ ba mà ngƣời này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền.
TSBĐ có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tƣơng lai và đƣợc phép giao dịch. Để TSBĐ thực sự có hiệu quả đòi hỏi: - Giá trị bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ đƣợc bảo đảm - Tài sản dùng làm bảo đảm nợ vay phải tạo ra đƣợc ngân lƣu (Phải có giá trị và có thị trƣờng tiêu thụ) - Có đầy đủ cơ sở pháp lý để ngƣời cho vay có quyền xử lý tài sản dùng làm bảo đảm tiền vay. Sự cần thiết của tài sản bảo đảm - Thứ nhất, TSBĐ là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng khi nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện đƣợc, giúp phòng ngừa rủi ro trong cho vay của các NHTM. - Thứ hai, TSBĐ giúp hạn chế xu hƣớng rủi ro đạo đức của ngƣời đi vay vì nó gắn trách nhiệm vật chất của ngƣời đi vay trong quá trình sử dụng vốn.
Ngƣời đi vay sẽ có ý thức trong việc sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, có hiệu quả và hoàn trả nợ đầy đủ, đúng hạn để đƣợc ngân hàng giải chấp tài sản. - Thứ ba, TSBĐ giúp sàng lọc khách hàng. Trong trƣờng hợp, nguồn vốn cho vay của NHTM là có hạn mà nhiều khách hàng vay vốn đều thỏa mãn yêu cầu cho 7 vay thì bảo đảm tiền vay sẽ là một trong những căn cứ đƣợc NH sử dụng để lựa chọn khách hàng. - Thứ tƣ, TSBĐ giúp bổ sung điều kiện để khách hàng đƣợc vay vốn.
Hoạt động cho vay có tài sản bảo đảm là bất động sản 1. Khái niệm bất động sản Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 của nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam, tại Điều 174 có quy định BĐS là các loại tài sản bao gồm: - Đất đai - Nhà công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó - Các tài sản khác gắn liền với đất đai - Các tài sản khác do pháp luật quy định Nhƣ vậy, BĐS bao gồm hai loại chính là đất đai và công trình xây dựng với đặc điểm là không đƣợc di dời. Đất đai bao gồm các loại sau: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở khu dân cƣ nông thôn, đất đô thị, đất chuyên dùng và đất chƣa sử dụng.Công trình xây dựng bao gồm: Nhà ở dùng để cho thuê hoặc bán, công trình phục vụ sản xuất kinh doanh, công trình kiến trúc có tính chất thƣơng mại, khách sạn, văn phòng cho thuê, công trình kiến trúc đặc thù. Khái niệm hoạt động cho vay có tài sản bảo đảm là bất động sản Cho vay có TSBĐ là BĐS là hình thức cấp tín dụng mà nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay đƣợc cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba là BĐS.
Theo đó, tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay. Thời hạn cho vay là khoản thời gian đƣợc tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã đƣợc thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Đặc điểm bất động sản là tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại TSBĐ là BĐS trong hoạt động cho vay của NHTM có những đặc điểm xuất phát từ những đặc điểm của BĐS, có thể kể đến nhƣ sau: - Thứ nhất, tính cá biệt và khan hiếm Đặc điểm này xuất phát từ tính cá biệt và tính khan hiếm của đất đai.
Đất đai có tính khan hiếm là do diện tích bề mặt trái đất là có hạn. Bởi vậy đất đai bị giới hạn về diện tích của từng miếng đất, khu vực, địa phƣơng, lãnh thổ. Chính vì tính khan hiếm, tính cố định và không thể di dời đƣợc của đất đai nên TSBĐ là BĐS có tính cá biệt. Tính cá biệt này còn thể hiện ở việc trong cùng một khu vực nhỏ kể cả hai BĐS cạnh nhau đều có những yếu tố không gian không giống nhau.
Trên thực tế khó tồn tại hai BĐS hoàn toàn giống nhau vì chúng có vị trí không gian khác nhau kể cả hai công trình cạnh nhau và cùng một thiết kế. Thậm chí ngay trong một tòa nhà cao tầng thì các căn phòng cũng có hƣớng và cấu tạo kiến trúc khác nhau. Ngoài ra chính các nhà đầu tƣ, kiến trúc sƣ hay chủ sở hữu BĐS đều quan tâm đến các cách bài trí căn hộ khác nhau để tạo ra sự hấp dẫn đối với khách hàng hoặc phục vụ sở thích cá nhân của họ. - Thứ hai, tính bền lâu Do đất đai là tài sản do thiên nhiên ban tặng, một loại tài nguyên đƣợc xem nhƣ không thể bị hủy hoại, trừ khi có thiên tai, xói lở, vùi lấp.
Các vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất sau khi xây dựng hoặc sau một thời gian sử dụng đƣợc cải tạo nâng cấp có thể tồn tại hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa. Vì vậy, tính bền lâu của TSBĐ là BĐS chỉ tuổi thọ của bản thân đất đai, vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất. Có hai khái niệm chỉ tuổi thọ của BĐS cần phân biệt là “ tuổi thọ vật lý” và “tuổi thọ kinh tế”. Tuổi thọ kinh tế chấm dứt trong điều kiện thị trƣờng và trạng thái hoạt động bình thƣờng mà chi phí sử dụng BĐS lại ngang bằng với lợi ích thu đƣợc từ BĐS đó.
Tuổi thọ vật lý thƣờng dài hơn tuổi thọ kinh tế khá nhiều vì nó chấm dứt khi các kết cấu chịu lực chủ yếu của vật kiến trúc là công trình xây dựng bị hƣ hỏng, không còn an toàn cho sử dụng. Hai khái niệm này rất đƣợc quan tâm trong 9 việc nhận thế chấp BĐS tại các NH. NH sẽ luôn đánh giá về tuổi thọ kinh tế của BĐS để làm cơ sở định giá, tuy nhiên tuổi thọ vật lý cũng rất đƣợc quan tâm, đặc biệt liên quan đến các chƣơng trình dự án mà NH tài trợ (Trong trƣờng hợp tuổi thọ kinh tế của BĐS vẫn còn mà tuổi thọ vật lý của BĐS giảm mạnh sẽ ảnh hƣởng tới giá trị BĐS mà NH đang nhận thế chấp). Chính vì tính chất bền lâu của TSBĐ là BĐS là do đất đai không bị mất đi, không bị thanh lý sau một quá trình sử dụng, lại có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau nên TSBĐ là BĐS rất phong phú, đa dạng và không bao giờ cạn kiệt.
- Thứ ba, tính có giá trị, tính giá trị chịu ảnh hƣởng lẫn nhau BĐS là tài sản có giá trị cả về mặt sử dụng lẫn tinh thần, vật chất. Khi trở thành TSBĐ, BĐS vẫn có những giá trị đó. Giá trị sử dụng thể hiện ở việc chủ sở hữu hay ngƣời sử dụng đang sử dụng BĐS cho các mục đích khác nhau nhƣ: Ở, cho thuê, kinh doanh. Giá trị tinh thần thể hiện ở việc chủ sở hữu hay ngƣời sử dụng coi đó nhƣ tài sản lớn của mình, có thể đem ra tặng, cho vay thừa kế.
Giá trị vật chất (Giá trị tài chính) của BĐS thể hiện ở việc giá trị đó dùng để bảo đảm cho các nghĩa vụ tài chính của bên thế chấp đối với bên nhận thế chấp. Các giá trị của BĐS phụ thuộc vào mục đích sử dụng chúng hay nói cách khác là phụ thuộc vào sự tác động của các yếu tố con ngƣời làm tăng khả năng sinh lời của BĐS. Khi đất đai đƣợc quy hoạch vào sản xuất nông nghiệp hoặc lâm nghiệp thƣờng có giá trị thấp hơn so với trƣờng hợp đất đai đó đƣợc quy hoạch phát triển nhà ở hoặc kinh doanh dịch vụ, thƣơng mại. Giá trị của BĐS chịu sự ảnh hƣởng lẫn nhau rất lớn, giá trị của một BĐS này có thể bị tác động của BĐS khác và ngƣợc lại.
Đặc biệt, trong trƣờng hợp Nhà nƣớc đầu tƣ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng sẽ làm tăng lợi thế và nâng cao giá trị sử dụng của BĐS trong khu vực đó. Trong thực tế, việc xây dựng, cải tạo BĐS này làm tôn thêm vẻ đẹp và sự hấp dẫn của BĐS khác gần nó là hiện tƣợng khá phổ biến. Nói cách khác, công tác quy hoạch có vai trò ảnh hƣởng quyết định đối với giá trị BĐS nói chung và sự ảnh hƣởng lẫn nhau giữa các BĐS nói riêng. - Thứ tƣ, tính pháp lý và bảo đảm Tính pháp lý của TSBĐ là BĐS thể hiện ở việc mỗi BĐS khi đƣợc dùng là 10 TSBĐ đều đã đƣợc cấp, chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng thông qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất, hợp đồng thuê đất, hợp đồng góp vốn, quyết định giao đất.
Vì vậy, mỗi TSBĐ là BĐS đều thuộc quyền sở hữu, sử dụng của pháp nhân nhất định, đƣợc pháp luật công nhận. Khi thực hiện giao dịch bảo đảm, BĐS phải đƣợc đăng ký giao dịch bảo đảm tại các cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.