CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU 11 TONG QUAN VE VUNG NGHIÊN CỨU. Tổng quan lưu vực sông Chu sông Mi 1. Lim vực Sông Ma Sông Mã tiếp giáp với vùng nghiên cứu từ ngã ba Bông bao bọc phía Tây và Nam. vùng nghiên cứu rồi đỗ ra biển tai của Hói.
Đoạn sông này dải 34,4km, hoàn toàn mang tỉnh chất sông đồng bằng và đồng bằng ven biển vi bị ảnh mạnh của chế độ thay triểu, Mực nước về mùa lũ thường là +7.5m tại ngã ba Bông và =I.š đến +22m tại Hoàng Tân. Mực nước trong mùa lũ thường cao hơn trong đồng 3 đến 4m nhưng sông này lại số hệ thống dé rit chắc chin từ Hoàng Khinh đến Của Hới. VỀ mùa kiệt mực nước dao4 Sn +1,5m ty theo cơn tiểu VỀ mùa kiệt sông Mã là con sông cung cắp nguồn nước tưới chủ yếu cho ving Bắc sông Mã bằng các hệ thống trạm bơm và cống lấy nước đọc sông. Sông Mũ bắt nguồn từ Tuin Giáo - Lai Châu chảy theo hướng Tây Đắc - Đông Nam chiều dãi dong chính 512 km, chiều rộng bình quân lưu vực 42kem.
Sông Mã có 39 phụ lưu lớn và 2 phân lưu. Các ph lưu phát triển đều trên lưu vực. Lưới sông Mã phát triển theo dạng cảnh cây phân êu trên2 bờ tả và hữu ie chi lưu quan trọng của sông Mã li: Nam Le, Suối Vạn Mai, sông Lung, sông La, ông Buri, sông Cầu Chiy, sông Hoạt, sông Chủ 2. Lim vực Sông Chu Là phy lưu cấp 1 lớn nhất của sông Mã.
Bắt nguồn từ vùng núi cao trên đất Lào chảy. chủ yếu theo hướng Tây Tây Bắc - Đông Đông Nam. Sông Chu đỗ vào sông Mã tại ngã ba Giảng, cách cửa sông Mã về phía thượng lưu 25,5 km. Chiều đài dòng chính sông Chu 392 km, phần chảy trên đất Việt Nam 160 km.
Tổng diện tích lưu vực sông Chu 7.580 kan, Diện tích lưu vục sông Chu hầu hết nằm ở ving rừng núi. Từ Bái “Thượng trở lên thượng nguồn lồng sông Chu đốc, có nhiều ghềnh thác, lòng sông hep có thim sông nhưng không có bãi sông. Từ Bái Thượng đến của sông Chu chảy giữa hai tuyến để, bai sông rộng, lòng sông thông thoảng, đốc nên khả năng thoát lũ của sông Chu nhanh. Sông Chu có rit nhiều phụ lưu lớn như sông Khao, sông Đạt, sông Đăng, sông Âm.
Sông Chu có vị tí rt quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên lũ sông Chu là hiểm hoạ lớn de doa nén kinh tế của tỉnh Thanh Hoá. Law vực Sông Bưởi Là phụ lưu lớn thứ 2 của sông Mã. Bắt nguồn từ núi Chu thuộc tỉnh Hoà Bình.
Dòng, chính sông Bưởi chảy theo hướng Bắc Nam dé vào sông Mã tại Vĩnh Khang. Chiều di đồng chính sông Budi 130 km, Diện tích lưu vực 1. Độ dốc bình quân lưu vực 1,22%, thượng nguồn sông Bưởi là 3 suối lớn: subi C suối Bin và suối Cộng, Hoà 3 nhinh hợp lại tại Vụ Bản tạo thành sông Bưởi. Lòng dẫn sông Buri tr thượng nguồn đến của sông đều mang tính chit của sông vùng đồi 4.
Lam vực Sông Cầu Chay Bắt nguồn từ núi Đèn chảy theo hướng gin Tây - Đông chảy qua đồng bằng Nam sông Mã - Bắc sông Chu. Tổng chiều đài sông 87,5 km. Diện tích lưu vực $51 kmẺ. Kha ing cấp nước và thoát nước của sông fu Chay rit kém, 5.
Liu vực Sông Hoạt Sông Hoạt là một sông nhỏ cổ lưu vực rit độc lập và có hai cửa đổ vào sông Lên ti cửa Báo Văn và dé ra biển tại cửa Can, Tổng diện tích lưu vực sông Hoạt 250 km? trong đỏ 40% là đổi núi trọ 6 Lara vực Sông Lên Là một phân lưu lớn của sông Mã, bit đầu từ ngã ba Bông chảy qua huyện Hà Trung, Nga Sơn, liệu Lộc và dé ra biển tại của Lach Sung. Sông dài khoảng 40km, lòng sông, quanh co uốn khúc. VỀ mùa lũ lượng nước chảy từ sông Mã vào sông Lên từ 1. Mục nước về mùa lũ thường cao hơn trong đồng từ 2.5m, nÊn oie ving đọc sông fu tranh thủ khi triểu xuống hoặc có phải tiêu bằng động lực.
Trong mia lũ sông Lên tải cho sông Mã 15+17% lưu lượng ra biển, tổng chiều dij sông Lên 40 km. Hai bên có để bảo vệ dân sinh và sản xuất của các huyện ven sông, VỀ mùa kiệ lưu lượng sông Mã phân sang sông Lên khoảng 20 đến 30%. Đây là con sông cung cấp nước quan trong cho vùng Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc và vùng lan biển. Sông Lên cũng bị ảnh hưởng của chế độ thủy tiểu khá mạnh (biên độ triều ti cầu Lên còn tới 0.4+0,5m) nên mặn vẫn bị xâm nhập ảnh hưởng ti việc lấy nước tưới.
Ở pha “Thắm, qua đo đạc thấy mặn thường xuyên là 2%. Em vực Sông Lach Trưởng: Là một nhánh phân lưu lớn của sông Ma bắt nguồn từ Phương Binh chảy qua Hoằng Hoá, Hậu Lộc và đỗ ra biển ti cửa Lach Trường. Chiều di sông khoảng 24ien. Đoạn sông này hep và nông.
VỀ mùa kiệt hầu như không lấy được nguồn tử sông Ma, nên sông bị mặn hoàn toàn và chịu ảnh hưởng thuỷ triểu. VỀ mùa lũ, một phan lượng nước từ sông Mã phân vào sông Lach Trường và đỗ ra biễn tụi của Lach Trường. Vi sông Lach Trường ngắn và bị nh hưởng triều mạnh nên có tác dụng tiêu tranh thủ rt tốt cho phần diện tích nằm giữa Nam sông Lén, Đông sông Mã, Bắc Lach Trường và Tay kênh De Sông Lạch Trường phân chia đồng chảy với sông Mã tại ngã ba Tuần chay theo hướng “Tây - Đông dé ra biễn tai cửa Lạch Trường. Chiều dài sông chính 22 km, sông có bãi rộng.
Sông Mã chỉ phân lưu vào sông Lạch Trường trong mùa lũ, trong mùa kiệt sông Lach Trường chịu tác động của thuỷ triều cá 2 phía là sông Mã và biển. Sông Lach “Trường là trục nhận nước tiêu quan trọng của Hoằng Hoá và Hậu Lộc, 8. Em vực Sông Bảo Văn: Nối với sông Hoạt tại Tử Thôn và đỗ ra sông Lên, sông dai khoảng 10km. Lòng sông đã được nạo vét, âu Mỹ Quan Trang và âu Báo Văn đã được xây dựng để ngăn mặn tạo nguồn nước cấp cho tưới.
Lim vực Sing Côn Từ Tứ Thôn qua Mỹ Quan Trang và dé ra biển tại cửa Cin. Đoạn từ Mỹ Quan Trang đến cầu Điể Hộ, hai bên sông núi đá không nạo vét được nên hàng năm lũ bị ứ tả khong tiêu thoát được, Do không có tác dụng tiêu về mùa lũ nên tại Mỹ Quan Trang đã xây dựng âu Mỹ Quan Trang để tách lũ núi của day Tam Điệp tiêu ra sông Can không, cho tran vào nội đồng, đồng thời còn để tiêu tranh thủ khi mực nước Ii sông Can thấp Nhìn chung hệ thống sông Hoạt, Báo Văn, ing Cần là các trục sông nội đồng chính. của vùng Hà Trung, Nga Sơn. Ngoài ra còn có vài con sông nhỏ như sông Cl Bạch, sông Hưng Long.
Nhung sông Chiếu Bach cũng gần như sông chết, chỉ cỏn sông Hưng Long là trục tiêu chính của huyện Nga Sơn. Cao độ đáy sông -0,8 đến -2m (tại “Tứ Thôn và cống Mộng Dưỡng). Lòng sông rộng khoảng 10* ấm, khoảng cách giữa 2 ‘ba là 40m. Kênh nảy chạy qua vùng cát nên hay bị sat lở, hiện nay đang được nạo vét và cứng hoá một phần.
it if : Seis os Hình I~ 1: Bản đồ khu vực nghiên cứu va sơ đỗ hệ thông sông Chu - song Mã 1. Đặc điểm tự nhiên ving nghiên cứu. Vi địa ý toàn bộ lưu vực sông Chu sông Mã “Toàn bộ lưu vực sông Chu sông Mã nằm trong toa độ Tir 22°37°30" đến 20°37°30" độ Tir 103°0S" 10” đến 106"05'10* độ kinh Đông. Nơi bắt nguồn của lưu vực thuộc Tuần Giáo tỉnh Lai Chau Phía Bắc giáp lu vực sông Di, sông Bồi chạy từ Sơn La về đắn Cầu Điễn Hộ, Phía Nam giáp lưu vực sông Hiểu, sông Yên, sông Bo.
Phía Tây giáp lưu vue sing M Kông Phía Đông li Vinh Bắc Bộ chạy dài từ cửa sông Cân đến cửa sông Mã với chiều đãi bờ biển 40 km, 2. Đặc điểm địa hình Nam sông Mã: là vùng chuyển tiếp từ vùng đối núi thấp sang vũng đồng bằng. có độ dốc nghiễng từ Tây sang Dong và dốc theo hưởng chảy cia sông Âm, sông Cầu Chay. Cao độ phía cục Tây Bắc của vùng từ 20+25m tring nhất là ven hạ du sông Cầu Chay.
Dạng địa hình này xen kế có những đồi bắt úp và thung lũng rộng, tring và sâu. Cây lương thực và hoa màu phân bố chủ yếu tir cao độ +18m. trở xuống, từ cao độ +18m đến +40m là sườn đồi, cây trồng chủ yếu là múa, cam và cao su, Từ cao độ +40m trở lên là rừng thưa, luồng, tre nứa và bụi rậm. Phía Bắc được giới hạn bởi đê sông Mã, phía Đông - Đông Nam là hạ du dé sông Chu, Do địa hình hạ du sông Ciu Chay thấp lại chịu ảnh hưởng nước lũ sông Mã nên việc.
tiêu thoát nước khó khăn nl là về mùa lũ, Van; Xam sông Chu: Day là vùng phía Nam của sông Chu một nhánh lớn của sông Mà. Độ đốc địa hình từ Tây Nam sang Đông Bắc và từ Tây sang Đông. Điểm cao nhất là khu Tho Xuân, Sao Vàng 20+25m thấp nhất vùng ven sông Yên 0,7+0,5m. Cao độ mặt dit đại bộ phận dưới +0m, là vũng trồng cây lương thực trọng điểm của tỉnh Thanh Hóa Tiểu vùng hạ sông Budi: Đây là vùng đồi núi thấp của hạ du sông Bưởi từ Kim Tân tối tủ ngan sông Ma.
Hướng dốc chỉnh theo chiều Bắc Nam. Đẳng bằng nơi cao nhất đạt 15 - 20m, nơi trũng nhất đạt +2,5m. Những vùng tring như Hon Nga, Vĩnh Hùng, Hà Linh, iu Mii thường bị ngập ting khi có lũ. Dạng địa hình này nằm tron ven trong hai huyện Vĩnh Lộc và Nam Thạch Thành.
Địa hình chủ yếu là đất ốc, đồi thoải rit thích hop cho vùng trồng mía Phin lớn các trạm khí tượng thuỷ van trên lưu vực sông Mã được xây dựng từ sau năm. 1954, phổ biến từ 1960 tới nay. Tuy nhiên một số trạm đo mưa, khí hậu được thành lập từ trước năm 1954 như trạm Như Xuân (1928), Bái Thượng (1921), Thanh Hoá (1899), Hồi Xuân (1923). Số liệu này đo đạc không được liên tục do chiến tranh gián đoạn từ những năm 1944, 1945 tới 1954.
Sau ngày hod bình lập lại lưới trạm khí tượng thuỷ văn được phát triển rộng tuy nhiên do chiến tranh và khó khăn về kinh tế nên những năm 1979 - 1980 nhiều trạm khí trong thuỷ văn đã bị hạ cấp hoặc ngững do. Đặc điểm mạng lưới trạm khí tượng thủy van vùng nghiên cứu.