CHƯƠNG 1: TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN COU Ự BAO LŨ VÀ ĐẶC. DIEM LƯU VỰC NGHIÊN COU 1.1 Tổng quan các nghiên cứu trên thể giới "Những năm gần day trên thé giới, nghiên cứu vận hành hồ chứa tập trung vào sử dụng sông cụ mô hình toần lý thuyết tối vu nhằm tính toán vận hành hỗ chứa theo thời gian thực, tính toán tối ưu vận hành hé chứa phỏng lũ, phát điện, cấp nước hạ du và các vin đề liên quan, Tại các nước phat iễn, ệ thống số liệu, ti liệu nên của các ngành ding nước được xây dựng một cách đầy đủ và đồng bộ. Công tác quan lý tài nguyên nước. cũng được thực hi một cách hiệu quả và có sự đồng thuận cao giữa cée ngành cũng như các mục tiêu vận bành.
Tuy nhiên, dưới tác động của biển đổi khí hậu: ảo, 10 lớn tăng cả tin số lẫn cượng độ cũng với mực nước biển cing dẫn đến nguy co thoátlũ kém, kèm theo hệ thống phông, chống lũ nhưng đề điều được xây dựng đã liu chưa được nâng cấp hoàn chỉnh làm cho lũ lụt ngảy cảng xảy ra nghiêm trọng, thiệt hai cảng tăng. “Trước thực trạng đó, các quốc gia phát tiễn đã tập trang nghiên cứu cúc tác động do việc xã lũ từ các hồ chứa gây ra dé phòng trường hợp thời tiết khí hậu cực đoan, từ đó <a m các phương án khả thi và ng tính hiệu quả cao cho an toàn hỖ chứa, lẫn hạ đu Long, N. L và nnk [12] đã nghiên cứu kết hợp mô hình mô phỏng và mồ hình tôi ưu để vân hành hồ Hòa Bình gii quyết xung đột chính giữa phòng lũ và phát điện ở giai đoạn cuỗi mùa lũ và đầu mùa lúệc Tác giả đã sử dụng phần mềm MIKE 11 để mô phỏng hệ thống sông và hồ chứa kết hợp với các thuật toán tối ưu SCE (shuffled somplexevoluion) để tim ra quỹ đạo tối tụ (pareto) khỉ xem xét cả hai tụ tiên giữa phòng lũ và phát đệ. Kết quả đạt được cho thấy hoàn toàn có thé đăng mô bình mô phỏng để gi quyết vin đề phòng ũ cho công trinh và cho ha du mà vẫn có th duy mi mực nước cao ở cuổi mùa lũ để đảm bảo hiệu ích cao trong phát điện ở mùa kiệt kế tiếp, Ding thời nghiên cứu công cho thấy thuật toán tối tu SCE là một công cụ hữu hiệu trong giải quyết các bi toán hệ thống phức tp.
J [23] đã nghiên cứu áp dụng thuật toán ti hóa (Evolution Algorithm ~ NSGA-II) vào vận hành hệ thông Š chứa gồm ồ citsui và Shihmen ở Dai Loan. Cúc tác giả đã mô phông và vận hành hệ thống hỗ chứa theo thời đoạn ngày, sau đó tính toán các chỉ số thiếu hụt nước. thorage indices ~ SI) cho cả 2 hồ 16 trong một thời gian di mô phòng. Thuật toin NSGA-II đã được sử dung dé làm giảm chỉ số SĨ thông qua chiến lược phối hợp vận hành 2 hồ.
Với 49 năm số liệu, ác tác giá cho thấy hoàn toàn có thể tim các chiến lược phổi hợp vận hành tốt hơn nhiều so với thực 4É vận hành trong 49 năm qua và giải tối ưu Pareto tim được cho 2 hồ chính là giải kiến nghị cho việc vận hành phối hợp. 25] nghiên cứu áp dung vận hành tối ưu với các quy tắc nhánh cây (recbased rules) cho hệ thống hi chứa đa mục tiêu phòng lũ với thời gian thực bằng việc ích hợp vào hệ thống mô hình dự báo thủy văn. Phương pháp này đã được áp dung cho hệ thống hồ chữa trên sông Tanshui ở Dai Loan. Kết quả vận hành thử nghiệm cho các trận mưa lũ lịch sử năm 2004 (trận Aere, Haima và Neck-ten) cho.
thấy phương pháp này cỏ kết quả tốt nhơn nhiều đảm bảo cắt được đình lũ theo yêu cầu của các điểm kiểm sodt ở hạ lưu mà vẫn đảm bảo yêu cầu tích nước ở cối mùa lũ ở các hồ chứa. và nnk (2005) [24] đã xây dựng một mô hình dự báo lũ cho lưu vye sông San Antonio (diện tích khoảng 10.000 km?) ở Bang Texas, Hoa Kỳ. Mô hình dự báo lũ này thực chất là sự kết hợp giữa mô bình thủy văn, thủy lye HEC - HMS, HEC — RAS và mô hình dự báo mưa bing radar NEXRAD với sự trợ giúp của công cụ GIS có tên * fap to Map” sử dụng phần mở rộng AreHydro trong ArcGIS cho khu vực nghiên cứu. Mô hình HEC ~ HMS trong nghiên cứu này là mô hình thông số phân bổ (sử đụng lựa chọn lũ đơn vị ModClark) với 6 lưới 4 km x 4 km tương ứng với độ phân giải của mưa lưới từ mô hình dự báo mưa bằng radar NEXRAD.
Công cụ “Map to Map” được sử dụng để xây dựng các bản đỗ đất, thảm phủ dạng lưới làm đầu vào cho HEC - HMS. Mô hình kết hợp này đã được hiệu chỉnh với lưu lượng thực đo tại 12 trạm thủy văn trong lưu vực vả được kiểm định với thông tin từ ảnh vệ tinh Landsat ‘TM để đảm bảo độ tin cậy, Công cụ GIS được sử dụng để xây đụng cơ sở dữ liệu bản đồ ngập lụt. Nghiên cứu đã thir nghiệm dự báo cho trận lũ lớn mủa hẻ năm 2002 và kết aq đạt được là khả tốt Mô hình kết hợp này đã mở ra triển vọng cho việc dự bảo lũ với phạm vi vùng và có thể áp dung cho nhiều vùng khác nhau ở Hoa Kỳ.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước Các hồ chứa thượng nguồn đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến chế độ lũ và ngập lụt hạ du các lưu vực sông. Nếu có chế độ vận hành hợp lý các hồ chứa sẽ có tác động tích cực đến hạ du mà vẫn đảm bảo được mục tiêu phát điện, an toàn hồ chứa, phòng lũ cho hạ du.
Vì vậy, việc đánh giá tác động của hệ thống hồ chứa đến lũ lụt hạ do trong điều kiện biến đổi khí hậu là hết sức cần thiết. Nguyễn Tiền Giang và nnk [13] đã đánh giá ảnh hưởng của hệ thống hồ chứa và biến đôi khí hậu tới quá trình lũ tại hạ du lưu vực sông Bến Hải — Thạch Han sử dụng bộ mô hình mô phỏng bao gồm mô đun mưa rào — dòng chảy, diễn toán lũ trong kênh, và diễn toán lũ qua hồ chứa, đập dâng. Từ các kết quả từ các kịch bản mà nghiên cứu đã chọn co thầy tác dụng cắt lũ của các hồ chứa thủy điện, thủy lợi đã lựa chọn đưa vào kịch bản vận hành là đáng kể. Tác động của điều tiết hồ chứa tới đặc trưng dòng chảy lũ mạnh mẽ hơn so với biến đổi khí hậu.
Khi có sự tham gia của vận hành hồ chứa, quá trình lưu lượng sau hồ bị điều tiết bởi quy trình vận hành hồ chứa. Lưu lượng xả phụ thuộc vào mực nước trong hồ. Do vậy, với kịch bản không có hồ thì lũ có đỉnh cao hơn và xuất hiện sớm hơn đối với kịch bản có hồ, dòng chảy về hồ bị giữ lại và được xả theo quy trình vận hành hồ chứa. Đối với các hồ chứa thủy lợi có dung tích và diện tích khống chế nhỏ thì lưu lượng khống chế phòng lũ đáng kê so với tổng lượng dòng chảy lũ của cả lưu vực.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc đánh giá ảnh hưởng của hồ chứa đến dòng chảy hạ lưu là rất cần thiết. Cao Đình Huy, Lê Hùng [1] “Nghiên cứu hiệu quả cắt giảm lũ hạ du của hệ thống hồ chứa thủy điện trên sông Ba” đã tính toán hai nội dung: Từ dòng chảy lũ đến hồ tiến hành vận hành điều tiết hồ và diễn toán lũ phía thượng lưu theo các phương án sau đó và tính toán ngập lụt phía hạ lưu với công cụ tính toán mô phỏng tương ứng theo hai mô hình là: Mô hình HEC-Ressim để vận hành điều tiết hồ chứa và diễn toán lũ thượng lưu; Mô hình được thiết lập điều hành hệ thống 3 hồ chứa lớn trên lưu vực sông Ba là Krông Hnăng, sông Hinh và sông Ba Hạ, các kết quả điều tiết xả lũ tại sông Ba Hạ và sông Hình làm đầu vào cho mô hình thủy lực MIKE FLOOD (DHI). Nghiên cứu mô phỏng điều tiết hồ với 2 phương án: Phương án 1 điều tiết các hồ chứa với mực nước hô ban dau là mực nước trước lũ, sau đó hạ mực nước hô xuông mực nước đón lũ theo Quy trình liên hồ chứa của chính phủ; Phương án 2 là điều tiết giữ nguyên mực nước hồ băng mực nước trước theo Quy trình liên hồ chứa của chính phủ, không hạ mực nước hồ xuống đón lũ. Kết quả nghiên cứu đề xuất chế độ vận hành hệ thống hồ chứa thượng nguồn lưu vực sông Ba cho 2 phương án: Phương án theo quy trình liên hồ của chính phủ, tạo dung tích đón lũ và phương án giữ nguyên mực nước đón lũ, ta thấy việc tạo dung tích đón lũ tuy có hiệu quả cắt đỉnh lũ so với phương án giữ nguyên mực nước đón trước khoảng 5%; tuy nhiên việc cắt lũ không hiệu quả sẽ làm thiệt hại sản lượng điện năng của các nhà máy thủy điện.
Đề xuất hai nhóm kịch bản nêu trên, có thé thay được mức độ phòng lũ của hệ thống hồ chứa sông Ba là không lớn. Sự khác nhau giữa kịch bản tạo dung tích đón lũ và giữ nguyên mực nước trước lũ là không đáng kẻ, trong khi việc vận hành dé tạo dung tích đón lũ sẽ gặp nhiều khó khăn cho người điều hành vì khả năng dự báo lũ hiện nay của các con sông Miền Trung nói chung và sông Ba nói riêng có độ chính xác thấp, thời gian dự báo không đài. Tô Thúy Nga [15] “Nghiên cứu vận hành hệ thống hồ chứa lớn trên lưu vực sông Vu Gia — Thu Bồn phục vụ phòng chống lũ” với cơ sở đề xuất phương án vận hành xả lũ dựa trên kha năng mô phỏng cảnh báo, dự báo lũ khi có thông tin, dự báo mưa từ trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia. Với thời gian dự báo mưa khoảng 3 ngày sẽ nhận định khả năng gây lũ từ đó vận hành hồ xả nước đón lũ.
Điều này cho phép các hồ chứa vẫn có thé tích nước cao hơn mực nước trước lũ thậm chí có thé tới mực nước dâng bình thường. Nghiên cứu đã xây dựng mô hình MOPHONG-LU trên cơ sở tích hop các mô hình mưa — dòng chảy, mô hình vận hành hồ chứa và diễn toán lũ trong sông cho phép mô phỏng, cảnh báo, dự báo lũ đến các nút hồ chứa và các nút sông.