Chương 1. Tổng quan các điều kiện tự nhiên, KT-XH khu vực sông Ba đoạn qua thị xã Ayun Pa Chương 2. Lịch sử và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Hiện trạng và các yếu tố gây xói lở bờ sông Chương 4.
Phân vùng nguy cơ và các giải pháp phòng chống, giảm thiểu thiệt hại 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Luận văn được hoàn thành tại Viện Địa chất-Viện Hàn lâm Khoa học và Công Nghệ Việt Nam trên cơ sở kết quả hai đợt khảo sát thực địa và các số liệu, tài liệu của Đề tài: “Nghiên cứu một số dạng tai biến địa chất điển hình phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu vực Tây Nguyên” mã số TN3. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI KHU VỰC SÔNG BA ĐOẠN QUA THỊ XÃ AYUN PA 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí khu vực nghiên cứu Khu vực nghiên cứu được giới hạn từ 108°24'20" đến 108°30'30" Kinh độ Đông và từ 13°21'30" đến 13°27'02" Vĩ độ Bắc.
Khu vực nghiên cứu là vùng trũng có dạng địa hào hướng TB-ĐN thuộc trung lưu của sông Ba. Đoạn sông được chọn để nghiên cứu XLBS gồm một đoạn của nhánh sông Ayun và khoảng 20km sông Ba đoạn chảy qua địa phận TX. Ayun Pa, huyện Ia Pa (Hình 1. Vị trí sông Ba đoạn qua TX.
Ayun Pa, tỉnh Gia Lai (Ảnh Landsat 2014) 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Địa hình Khu vực nghiên cứu xói lở bờ sông Ba, đoạn qua TX. Ayun Pa, tỉnh Gia Lai có thể gọi theo khái niệm là “trũng Ayun Pa”- là dải địa hình trũng giữa núi được bao bọc bởi các dải núi cao xung quanh. Trũng có dạng địa hào, kéo dài theo phương TB-ĐN, càng về phía ĐN trũng rộng dần, phần trung tâm là dải đồng bằng tích tụ đệ tứ được tạo nên bởi hoạt động của dòng sông Ba và các nhánh của chúng, với độ cao tuyệt đối dao động trong khoảng 150-154m, nơi thấp nhất là khu vực thôn Jứ Ama Nai (ngã ba giữa sông Ba và sông Ea Thul).
Kế tiếp, từ trung tâm vùng trũng đi về hai phía ĐB và TN (ven rìa trũng) là các dải đồng bằng dạng đồi, thềm tích tụ và thềm tích tụ-bóc mòn với độ cao từ 155-170m. Sau đó chuyển tiếp thẳng lên địa hình núi qua các vách hoặc sườn núi có độ dốc lớn 30-450. Địa hình KVNC có dạng bậc thấp dần vào trung tâm.2: Mô hình DEM KVNC 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mạng lưới sông suối Trên bình đồ phân bố hệ thống sông Ba, thì khu vực nghiên cứu (KVNC) chỉ chiếm một phần nhỏ của hệ thống sông này (phần trung lưu).
Tuy nhiên, mạng lưới sông suối cũng như sự phân bố của các dạng địa hình sông (bãi bồi, thềm sông, uốn khúc sông.) ở khu vực này rất đặc thù không chỉ phản sánh những đặc trưng của cấu trúc địa hình, địa chất, hoạt động kiến tạo mà còn phản ánh rõ nét mối quan hệ giữa hoạt động của sông với một số dạng tai biến địa chất ở đây: lũ lụt, trượt lở, XLBS và trên các khe suối nhỏ ở vùng ven rìa trũng Ayun Pa. Khu vực nghiên cứu gồm có dòng sông chính là sông Ba chảy theo phương từ Bắc xuống Nam, sau đó chuyển sang phương TB-ĐN và nhiều sông, suối nhánh với quy mô chiều dài khác nhau nhập vào dòng chính này. Phía bờ phải của Sông Ba gồm có sông Ayun, sông Ea Rboi, sông Ea Rtô. Trong đó sông Ayun là nhánh lớn hơn cả chảy theo hướng từ TB xuống ĐN, còn sông Ea Rboi và Ea Rtô nhỏ hơn chảy theo hướng á kinh tuyến từ Nam lên Bắc.
Phía bờ trái chỉ có nhánh sông Ea Thul là lớn hơn cả chảy theo hướng dích zắc, phần thượng nguồn chảy theo hướng á kinh tuyến từ Bắc xuống Nam, phần trung lưu theo hướng á vĩ tuyến từ Đông sang Tây và phần hạ lưu chảy theo hướng á kinh tuyến rồi nhập vào sông Ba ở cuối vùng trũng (xã Ia Tul). Như vậy có thể thấy sông Ba ở khu vực này gồm nhiều nhánh sông chảy từ nhiều phía khác nhau (trùng với các đứt gãy kiến tạo) đổ dồn vào đây tạo nên một hệ thống mạng sông, suối có kiểu hội tụ rất đặc trưng phản ánh tính chất hạ lún kiến tạo trong giai đoạn này. Chính vì vậy khi vào mùa mưa lũ, nước từ các nơi đổ về làm mực nước dâng cao bất thường, không kịp thoát xuống dưới hạ lưu (hiện chỉ có một lối thoát rất hẹp phía TN vùng nghiên cứu) gây ngập lụt cả vùng rộng lớn. Đặc điểm khí hậu Khí hậu trên lưu vực sông Ba là khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu sự chi phối của địa hình một cách sâu sắc.
Ở phía Tây bị chặn bởi dãy núi cao Trường Sơn. Ở phía Bắc, là dải núi cao phương á vĩ tuyến (dải núi Bạch Mã), Phía Nam là dải núi 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cao phương á vĩ tuyến kéo dài ra biển. Phía Đông là vùng Biển Đông. Với đặc thù về vị trí địa hình của lưu vực sông Ba như vậy nên khí hậu lưu vực sông Ba mang nét đặc trưng riêng.
Về mưa, lưu vực sông Ba nói riêng, dải khu vực Miền Trung nói chung có hai mùa rõ rệt: mùa mưa tập trung từ tháng IX đến tháng XII, mùa khô từ tháng I đến tháng VIII. Cực đại các trận mưa một ngày đêm trong khu vực thuộc loại lớn ở Việt Nam: Tại An Khê đạt 240,8mm (1987), tại Sông Hinh 674mm (1981), tại Sơn Hoà 579mm (1992), tại Sơn Thành đạt 502mm (năm 1993) và tại Tuy Hoà đạt 628 mm (năm 1993). Thời gian mưa lớn nhất và thời gian xuất hiện lũ lớn nhất trên sông có sự lệch pha không đáng kể. Đặc điểm hình thái sông Ba Sông Ba bắt nguồn từ núi Kon Ka Kinh chảy qua các huyện phía Đông của Gia Lai, xuống tỉnh Phú Yên rồi đổ ra Biển Đông khu vực huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Phần thượng lưu chảy theo hướng TB-ĐN, phần trung và hạ lưu chảy theo phương á vĩ tuyến, (các đặc trưng hình thái sông Ba được thể hiện trên bảng 1. Lưu vực sông Ba ở thượng nguồn nhỏ, sau đó phình ra ở phần trung lưu vực, rồi lại thu hẹp ở phần hạ lưu vực trước khi đổ ra Biển Đông. Nhìn chung địa hình lưu vực sông Ba rất phức tạp được tạo ra bởi sự chia cắt của dải Trường Sơn, cao nguyên và đồng bằng, tạo nên những thung lũng sông có độ dốc lớn. Độ cao bình quân lưu vực khoảng 500m.
Sông Ba có nhiều sông nhánh, có hơn 50 sông nhánh 2 có chiều dài lớn hơn 20 km, 19 sông nhánh có diện tích lưu vực lớn hơn 100 km. Đặc biệt có 3 sông nhánh chính đó là Ayun, Krông Hnăng và sông Hinh là những nhánh sông lớn hơn cả chi phối và tác động chính đến dòng sông Ba. Trên dòng sông Ba đã có nhiều công trình thủy điện lớn mang tầm cỡ Quốc gia và đã đi vào hoạt động: Thủy điện An Khê-Ka Nak, Đak Srong, Sông Ba thượng, Đak Srông 2 và Sông Ba Hạ (trên sông Ba). Thủy điện Ayun thượng 1 và 2, Hồ thủy lợi, thủy điện Ayunpa, (sông A Yun).
Ở phần hạ lưu còn có hai công trình 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thủy điện nữa là: Thủy điện Krông Năng, thủy điện Sông Hinh và dập thủy lợi Đồng Cam đã tác động ảnh hưởng lớn đến động lực dòng chảy của dòng sông Ba.1 cho thấy sông Ba có diện tích lưu vực thuộc loại lớn trong khu vực Tây Nguyên và khu vực Miền Trung. Độ chênh cao lớn phản ánh tính phân dị địa hình cao đồng thời cũng cho thấy sông ở nhiều đoạn còn rất trẻ và đang ở giai đoạn xâm thực sâu mạnh. Đặc trưng hình thái sông Ba Chiều Diện Độ cao Độ dốc Độ rộng Độ cao Chiều Hệ dài tích bình bình bình Mật độ nguồn dài số lưu hứng quân quân quân sông sông sông vực nước lưu vực lưu vực lưu vực (km/km2) uốn (m) (km) khúc (km) (km2) (m) (%) (m) 1200 388 286 13900 400 10,9 48,6 0,94 1,98 Đoạn sông Ba trong phạm vi nghiên cứu KVNC chi tiết là một đoạn sông Ba chảy trong địa hình trũng khá bằng phẳng với độ cao trung bình là 155m đến 160m. Trong phạm vi nghiên cứu ngoài dòng chính (sông Ba) như trên đã nói còn có 4 nhánh sông khác đổ vào, trong đó có nhánh sông Ayun là nhánh sông lớn hơn cả nằm phía bờ phải của sông Ba.
Phần thượng lưu của nhánh sông Ayun có công trình hồ đập thủy lợi, thủy điện lớn; Hồ, đập thủy lợi, thủy điện Ayun hạ, Thủy điện Ayun thượng 1 và 1a. Đặc điểm thủy văn Sông Ba Do có sự khác biệt về khí hậu giữa các vùng trên lưu vực sông Ba nên đặc điểm lũ trên lưu vực sông Ba rất phức tạp, thời gian lũ thường kéo dài từ 7 đến 9 ngày, thời gian lũ lên từ 2 đến 3 ngày. Trên lưu vực đỉnh lũ xuất hiện ở các sông nhánh và sông chính thường không trùng nhau; ví dụ năm 1981 đỉnh lũ xuất hiện tại An Khê vào ngày 9/XI, tại sông Hinh 10/XI còn tại Củng Sơn là 18/XI. Lũ sông Ba thuộc loại lũ lớn, các đỉnh lũ thường xuất hiện chủ yếu vào tháng X và XI, mô đun 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 2 đỉnh lũ trung bình An Khê khoảng 920 l/skm , tại Củng Sơn khoảng 660 l/skm.
Trên lưu vực sông Ba xuất hiện ba trận lũ lịch sử vào năm 1938, 1964 và năm 1993. Mùa kiệt trên lưu vực sông Ba kéo dài 9 tháng (Đối với vùng hạ lưu, từ tháng 1 đến tháng 9 với tổng lượng dòng chảy chỉ chiếm 25% đến 30% tổng lượng dòng chảy năm và vùng thượng lưu kéo dài 6 tháng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tổng lượng dòng chảy chiếm 25% đến 30% tổng lượng dòng chảy năm. Đặc biệt vùng hạ lưu, trong năm còn có 2 thời kỳ kiệt, thời kỳ thứ nhất xuất hiện vào tháng 4, thời kỳ kiệt thứ 2 xuất hiện vào tháng 8. Hai tháng 7 và 8 lượng dòng chảy chỉ chiếm 3,2% lượng dòng chảy năm.
- Lưu lượng dòng chảy Lưu lượng dòng chảy, vào thời gian trước năm 2008 khi toàn bộ hệ thống sông Ba phần thượng lưu chưa có công trình hồ, đập lớn nào. Duy nhất mới có công trình hồ đập thủy lợi Ayun Hạ hoạt động vào năm 1995. Thì lưu lượng đo được tại các trạm phụ thuộc vào lượng mưa ở phía thượng nguồn. Thống kê lưu lượng trung bình của các tháng trong nhiều năm (tính từ năm 2003) trở về trước tại trạm Củng Sơn cho thấy: Bảng 1.