Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Theo tài liệu quản lý lửa rừng của tổ chức Nông Lương thế giới (FAO) cháy rừng là “sự xuất hiện và lan truyền các đám cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người, gây nên tổn thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường”. Một phản ứng cháy xảy ra khi đủ các yếu tố: - Vật liệu cháy có w<25% (chất bị cháy).
Nguồn lửa gây ra cháy rừng có nhiều nhưng có thể chia ra làm 2 nhóm chính: Lửa do các hiện tượng tự nhiên và lửa do hoạt động của con người. + Nguồn lửa do các hiện tượng tự nhiên gây ra như sấm sét, núi lửa, động đất, v.v… rất khó khống chế. Nguyên nhân này chiếm tỉ lệ thấp 1 - 5% và chỉ xuất hiện trong những điều kiện hết sức thuận lợi cho quá trình phát sinh nguồn lửa tiếp xúc với các vật liệu khô ở trong rừng (Phạm Ngọc Hưng, 1994). + Trong thực tế nguồn lửa gây ra các đám cháy trong rừng là do con người gây nên như từ các hoạt động cố ý hay vô ý như: đốt nương, đốt ong, đốt lửa sưởi ấm … Theo thống kê nguồn lửa gây cháy rừng do hoạt động của con người chiếm trên 90%.
Nếu thiếu 1 trong 3 nhân tố trên quá trình cháy không xảy ra, sự kết hợp 3 nhân tố này tạo thành một tam giác lửa (Phạm Ngọc Hưng, 2005). Luan van 5 Nguồn lửa Oxy Vật liệu cháy Hình 1. Tam giác lửa Qua hình 1.1 nếu thay đổi giảm hoặc phá hủy 1 hoặc 2 cạnh thì “tam giác lửa” sẽ thay đổi và bị phá vỡ, điều đó có nghĩa là đám cháy bị suy yếu hoặc bị dập tắt. Đây cũng là cơ sở khoa học của công tác PCCCR.
Vấn đề phòng cháy chữa cháy rừng cần lưu ý cả ba yếu tố trên, đồng thời giảm bớt vật liệu cháy trước mùa khô hanh; Kiểm soát các nguồn lửa và ngăn sự tiếp xúc của Oxy với vật liệu cháy (Phạm Ngọc Hưng, 1988). Tình hình nghiên cứu về phòng cháy chữa cháy rừng trên thế giới. Trên thế giới công tác dự báo cháy rừng được tiến hành cách đây hàng trăm năm đến nay đã đưa ra được nhiều phương pháp khác nhau và được áp dụng ở nhiều nơi tùy thuộc vào từng quốc gia và lãnh thổ.Show đã đưa ra phương pháp dự báo cháy rừng thông qua việc xác định độ ẩm của tầng thảm mục trong rừng với các yếu tố khí tượng thủy văn, để từ đó đề ra những biện pháp PCCCR. Họ cho rằng: Độ ẩm của thảm mục nói lên mức độ khô hạn của rừng.
Độ khô hạn của rừng càng cao thì khả năng xuất hiện cháy rừng càng lớn. Ở Nga trong những năm 1929 - 1940 Nesterop đã tiến hành nghiên cứu tổng hợp (các yếu tố khí tượng thủy văn và các yếu tố khác), ông đã tìm ra được mối quan hệ chặt chẽ giữa khả năng xảy ra cháy rừng với các chỉ số khác Luan van 6 như: Số ngày không mưa, nhiệt độ không khí lúc 13h, nhiệt độ điểm sương. Từ đó ông đã xây dựng lên công thức thể hiện mối quan hệ này: ti.(ti-Di) Pi = n -1 Trong đó: Pi: Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá nguy cơ cháy rừng. n: Số ngày không mưa kể cả ngày cuối cùng có p<5mm.
ti: Nhiệt độ không khí lúc 13h. Di: Nhiệt độ điểm sương. Phương pháp của Nesterop có ưu điểm dễ thực hiện, chỉ cần xác định được nhiệt độ lúc 13h từ ngày mưa cuối cùng là có thể xác định được P.1: Phân cấp nguy hiểm cháy rừng ở Nga Cấp Chỉ tiêu tổng hợp P Mức độ cháy Theo Nesterop Theo TMY nguy hiểm rừng I < 300 < 200 Không nguy hiểm II 301 - 500 201 - 450 Ít nguy hiểm III 501 - 1000 451 - 900 Nguy hiểm IV 1001 - 4000 901 - 2000 Rất nguy hiểm V >4000 >2001 Cực kỳ nguy hiểm Ở Thụy Điển và các nước thuộc bán đảo Scandinavia người ta sử dụng chỉ số Angstrom để dự báo khả năng cháy rừng. Công thức tính như sau: R 27 - T I= + 20 10 Luan van 7 Trong đó: I: Chỉ số Angstrom để xác định khả năng cháy rừng.
R: Độ ẩm không khí tương đối thấp trong ngày (%). T: Nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày (oC). Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản dễ tính, nhưng nhược điểm là độ chính xác không cao (Phạm Ngọc Hưng, 1994). Ở Đức, Waymann qua nghiên cứu thấy độ ẩm nhỏ nhất của vật liệu cháy và nhiệt độ cao nhất trong ngày có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, từ đó ông đã đưa ra mối quan hệ giữa hàm lượng nước của vật liệu cháy và khả năng cháy rừng để dự báo nguy cơ cháy rừng.
Phương pháp dự báo cháy rừng này đòi hỏi việc tiến hành tương đối phức tạp (Phạm Ngọc Hưng, 1994). Ngoài ra trên thế giới còn áp dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp chỉ tiêu khả năng bén lửa của Yanmei (Trung Quốc), phương pháp hệ thống đánh giá mức độ nguy hiểm của cháy rừng (Hoa Kỳ)… (Trần Văn Mão, 1998). Tình hình nghiên cứu về phòng cháy chữa cháy rừng ở Việt Nam * Thực trạng phòng cháy chữa cháy rừng ở Việt Nam Nước ta hiện nay có 14.295 ha rừng, trong đó có 10.525 ha rừng tự nhiên, 4.770 ha rừng trồng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2018), các trạng thái dễ cháy như: - Rừng thông: Phân bố tập trung ở các tỉnh Lâm Đồng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An,… Thông là loài cây có tinh dầu, về mùa khô hạn dễ bắt lửa gây nguy cơ cháy rừng lớn. - Rừng tràm: Phân bố ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ,… Là loại rừng chịu 6 tháng khô, 6 tháng ngập nước có tầng than bùn dày từ 0,5 - 1 mét, lá có chứa tinh dầu, về mùa khô nguồn than bùn, thảm tươi cây bụi khô đó là nguồn vật liệu cháy lớn dễ dẫn tới cháy rừng lớn.
Luan van 8 - Rừng tre nứa: Tập trung ở các tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc, Đông Bắc, Khu V, Khu IV cũ, Tây Nguyên… Về mùa đông lá tre nứa rụng hàng loạt tạo nên nguồn vật liệu cháy lớn. - Rừng dầu lông: Chủ yếu ở các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc,… là loại cây thường xuyên bị cháy vào mùa khô ở Tây Nguyên thường bị cháy từ tháng 11 năm trước tới tháng 5 năm sau. - Ngoài ra còn 1 số loại rừng trồng khác như: Bồ đề, mỡ, bạch đàn, rừng đặc sản và hàng triệu ha đất trống đồi núi trọc, cỏ tranh lau lách đến mùa khô hanh cũng gây cháy rừng nghiêm trọng. Trong vài thập kỷ qua, trung bình mỗi năm Việt Nam mất đi hàng chục ngàn ha rừng, trong đó mất do cháy rừng khoảng 16.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ về cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra trong vòng 40 năm qua (1963 - 2002) của Cục Kiểm lâm; tổng số vụ cháy rừng là trên 47.000 vụ, diện tích thiệt hại trên 633.000 ha rừng (chủ yếu là rừng non),trong đó có 262.325 ha rừng trồng và 376.160 ha rừng tự nhiên. Thiệt hại ước tính mất hàng trăm tỷ đồng mỗi năm, đó là chưa kể đến những ảnh hưởng xấu về môi trường sống, cùng những thiệt hại do làm tăng lũ lụt ở vùng hạ lưu mà chúng ta chưa định lượng được và làm giảm tính đa dạng sinh học, phá vỡ cảnh quan; tác động xấu đến an ninh quốc phòng. Ngoài ra, còn gây tổn hại đến tính mạng và tài sản của con người. Ở nước ta công tác dự báo cháy rừng thực hiện từ năm 1981 nhưng vẫn chưa thật đồng bộ.
Hiện nay nhà nước ta đã có nhiều chính sách hỗ trợ đầu tư cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng đạt được những kết quả bước đầu. * Nguyên nhân cháy rừng ở Việt Nam Nguyên nhân về điều kiện tự nhiên - Điều kiện thời tiết và các nhân tố khí tượng là tác nhân quan trọng dẫn tới sự phát sinh và phát triển của rừng thông qua các yếu tố: Nhiệt độ, độ ẩm, Luan van 9 gió ảnh hưởng đến sự hình thành và tích tụ vật liệu cháy cũng như tạo điều kiện thích ứng cho sự phát cháy. - Do kiểu rừng và loại hình thực bì có liên quan đến nguồn vật liệu cháy, tính chất và khối lượng của vật liệu cháy, từ đó ảnh hưởng đến tích bắt lửa và quy mô đám cháy. - Do địa hình: Là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cháy rừng như có tác dụng ảnh hưởng đến hướng và tốc độ gió, hình thành các tiểu khí hậu khác nhau.
Độ cao cũng là yếu tố ảnh hưởng đến cháy rừng, rừng ở vị trí càng cao thì thường khô hanh kéo dài, nắng nhiều và dao động nhiệt lớn hơn so với vùng thấp. - Một số nguyên nhân tự nhiên khác: Cháy rừng có thể do núi lửa, sét, động đất gây ra nhưng trường hợp đó thường ít xảy ra ở nước ta. Nguyên nhân do điều kiện kinh tế - xã hội: - Cháy rừng do hoạt động sản xuất của con người: Các hoạt động đốt nương làm rẫy, đốt rơm rạ, đốt ong hay trong quá trình khai thác lâm sản mà vô ý gây ra cháy rừng. - Cháy rừng do các hoạt động xã hội: Do đốt lửa sưởi ấm vào mùa đông, đốt hương, đèn trời vào các dịp lễ tết, hoạt động du lịch hay thù hằn cá nhân gây ra cháy rừng.
- Cháy rừng do nguyên nhân quản lý, điều hành thiếu chặt chẽ, khó khăn trong việc triển khai văn bản chính sách của nhà nước, lực lượng PCCCR được trang bị thô sơ chính sách đãi ngộ không cao, sự phối hợp giữa các bên tham gia chưa nhịp nhàng, đồng bộ (Trần Văn Mão, 1998). Nhiều năm gần đây, tình hình cháy rừng trên địa bàn cả nước đang có chiều hướng gia tăng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cháy rừng, nhưng chủyếu vẫn là do con người gây ra. Theo thống kê, hằng năm có khoảng 70% số vụ cháy rừng là do đốt nương làm rẫy.
Mức độ cháy rừng những tháng đầu năm nay xảy ra nghiêm trọng, diễn biến phức tạp hơn các năm trước đây. Công tác Luan van 10 chữa cháy rừng cũng gặp khó khăn do hầu hết các vụ cháy rừng đều xảy ra ở độ cao 500 - 800 m, thuộc những vùng địa hình dốc, xa dân, không có đường đi, rất khó khăn để tập kết các phương tiện chữa cháy như máy bơm, xe ô-tô, máy thổi gió, xe cứu hỏa.