CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ở ngoài nước 1. Các công trình nghiên cứu về di dân hay di cư lao động quốc tế Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về di chuyển lao động quốc tế dưới góc độ di dân hay di cư lao động quốc tế, chứ không nghiên cứu nhiều về các hình thức XKLĐ (xuất khẩu sức lao động). Các cơ quan nghiên cứu về di cư lao động quốc tế ở các nước cũng như của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Di cư quốc tế (IOM), các cơ quan nghiên cứu của Liên hợp quốc, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), các tổ chức tài chính quốc tế như IMF, WB, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) cũng chủ yếu nghiên cứu về tình trạng di dân quốc tế và các vấn đề xung quanh hiện tượng này.
Bối cảnh tạo nên làn sóng di cư và di chuyển lao động quốc tế Toàn cầu hoá đã mang lại những chuyển đổi lớn về các dòng vận động của hàng hoá, vốn và lao động. Thời kì đầu, về sản xuất hàng hóa, đã thay đổi từ dây chuyền lắp ráp tuyến tính sang hình thức sản xuất theo mạng lưới phụ thuộc vào việc thuê ngoài hoặc thuê thầu phụ cho các nhà sản xuất khác nhau trên khắp thế giới , là hình thức sản xuất linh hoạt, thích ứng với các điều kiện thị trường. Tiếp đó, các chính sách thương mại và khuôn khổ hội nhập kinh tế của các quốc gia trên thế giới đã tập trung vào việc tạo ra các cơ hội kinh tế mới cho mạng lưới sản xuất ở các khu vực có chi phí lao động thấp hơn như Châu Á, Châu Phi, Nam Mỹ để giảm chi phí sản xuất hàng hóa cho thị trường các quốc gia phát triển. Khi vốn và hàng hóa có thể di chuyển tự do, các doanh nghiệp có thể sản xuất hiệu quả hơn dựa trên cường độ vốn, lao động và nguồn lực khác.
Các địa điểm sản xuất thường ở xa các địa điểm tiêu thụ hàng hóa. Các doanh nghiệp đã và đang chuyển địa điểm sản xuất sang các khu vực dồi dào lao động giá rẻ trên thế giới chủ yếu vì động cơ giảm chi phí sản xuất. Do đó, việc mở cửa cho hoạt động thương mại sẽ có lợi cho người lao động ở những quốc gia tương đối dồi dào nguồn cung lao động nhưng lại không tốt cho người lao động ở những nước tương đối dồi dào nguồn vốn (và khan hiếm lao động). Các doanh nghiệp đã và đang chuyển địa điểm sản xuất sang các khu vực dồi dào lao động giá rẻ trên thế giới Hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh nhiều quốc gia châu Á, châu Phi, Châu Mỹ La Tinh là các nước nghèo có nền kinh tế chưa hoặc đang phát triển.
Các vấn đề 14 như thất nghiệp, nghèo đói, … tại các quốc gia này đã dẫn đến sự xuất hiện của làn sóng di cư và di chuyển lao động quốc tế vào cuối những năm 60, đầu những năm 70 (Mosley, L. Một số nghiên cứu đã đi sâu vào phân tích một số trường hợp quốc gia đặc biệt, thực hiện việc di cư - di chuyển lao động quốc tế như một chiến lược, giải pháp phát triển kinh tế nước nhà, ví dụ điển hình Phillipines. Nghiên cứu của Neil G Ruiz (2001) cũng chỉ ra lý do về sự bất cân bằng giữa trình độ học vấn và cung việc làm, rằng những tiến bộ về giáo dục ở Philippines đã dẫn đến một lượng lớn lao động di cư ra nước ngoài làm việc. Không hòa nhập được lực lượng lao động có trình độ cao vào nền kinh tế trong nước, Nhà nước Philippines tập trung vào việc XKLĐ có trình độ đại học / trình độ cao đẳng bằng cách tạo ra một loạt các cơ sở đào tạo để tạo điều kiện cho họ đi tìm kiếm việc làm ở nước ngoài.
Kết quả là, có hơn 10% công dân nước này đã đi làm việc và sinh sống ở nước ngoài tại hơn 160 quốc gia (và có thời kỳ khoảng 4.600 người Philippines rời đất nước mỗi ngày để làm việc ở nước ngoài). Cũng bởi vì lao động di cư quốc tế thường là những người lao động có học thức và kinh nghiệm ở nước sở tại, nên việc họ đi XKLĐ thường dẫn đến sự gián đoạn hoạt động kinh tế trong nước. Các nghiên cứu cũng chỉ rõ các phản ứng của thị trường lao động sẽ phụ thuộc vào thành phần di cư và bản chất của thị trường lao động về tính linh hoạt, phân khúc và tỷ lệ việc làm chưa đủ hoặc thiếu việc làm. Việc đưa lao động ra nước ngoài làm việc dựa vào các tổ chức di cư của chính phủ cũng trở thành một lực lượng hợp pháp ở nước ngoài.
Thông qua các chính sách và thể chế di cư, một số quốc gia như Philippines đã đạt được sự tuân thủ và tính hợp pháp từ những người di cư - đáp ứng tất cả các đặc điểm của một quốc gia có lao động di cư ra nước ngoài làm việc. Các nghiên cứu về hiện trạng di cư và di chuyển lao động quốc tế Các cơ quan của Liên hợp quốc, ILO, OECD, … đều có các báo cáo nghiên cứu hàng năm về tình trạng di chuyển lao động quốc tế. IOM (2018), World Migration Report 2018, Báo cáo Di cư Thế giới năm 2018, là báo cáo thứ 9 trong chuỗi các báo cáo về di cư quốc tế của IOM. Báo cáo này được chia ra làm 2 phần lớn, gồm 10 chương.
Phần thứ nhất với chủ đề “các dữ liệu và thông tin chính về di cư”, bao gồm các xu hướng di cư toàn cầu; di cư dưới góc độ khu vực và những nghiên cứu và phân tích gần đây về di cư. Phần thứ hai về “các vấn đề di cư phức tạp mới xuất hiện”, tập trung vào các vấn đề như quản trị di cư toàn cầu; sự di chuyển, di cư và liên kết xuyên quốc gia; tìm hiểu hành trình di cư từ góc độ của người di cư; truyền thông về di cư và người di cư; tình hình di cư, bạo lực cực đoan và vấn đề xã hội; và bổ sung thêm các thông tin liên quan đến người di cư vào các báo cáo di cư thế giới 2015 (IOM, 2018, World Migration Report). ILO (2018) báo cáo nghiên cứu về việc biến đổi khí 15 hậu và suy thoái môi trường sẽ tác động đến thị trường lao động như thế nào, ảnh hưởng tới cả quy mô và chất lượng việc làm ra sao và lượng hóa sự dịch chuyển lao động được kỳ vọng sẽ diễn ra trong nội bộ ngành và giữa các ngành của các quốc gia. Các nghiên cứu đã có đều chỉ ra xu hướng di cư lao động chủ yếu từ các nước kém phát triển, các nước nghèo đói do thiên tai hoặc do chiến tranh sang các nước phát triển.
Hiện tượng chảy máu chất xám Một số học giả cho rằng, những thành phần người dân di cư sang nước ngoài để lao động nên bị đánh thuế để bù đắp cho sự đầu tư vào con người của họ ở nước bản xứ. Có ý kiến khác lại cho rằng: “Chảy máu chất xám” thực sự đang tạo ra một “tuần hoàn trí tuệ” và đề cập đến việc nhiều người nhập cư đã học tập và làm việc ở nước ngoài đang có xu hướng về nước để theo đuổi các cơ hội đầy hứa hẹn tại quê hương. Liên quan đến vấn đề chảy máu chất xám, Adams (2003) nhận thấy rằng di cư hợp pháp quốc tế phần lớn là sự di chuyển của những người có trình độ học vấn, với phần lớn những người này chuyển đến Hoa Kỳ và các nước OECD khác. Như vậy, đối với một số quốc gia có nguồn lao động di cư quốc tế sẽ dẫn đến chảy máu chất xám.
Một số tác giả khác cũng cho rằng di cư quốc tế làm mất đi đáng kể những người có trình độ học vấn cao ở nhiều quốc gia (Lowell 2002; Lucas 2005). Tan (2007) đã nghiên cứu trường hợp của Philippines, các y tá tay nghề cao và công nhân công nghệ đi XKLĐ đã làm thiếu hụt nguồn cung các loại lao động này trong nước. Trong phạm vi hệ thống giáo dục - đào tạo không thể tạo ra nguồn thay thế, trong ngắn hạn và trung hạn, tình trạng chảy máu chất xám đã xảy ra. Tuy nhiên, tình trạng chảy máu chất xám có lẽ không phải là một vấn đề khó giải quyết vì có những lợi ích bù đắp, chẳng hạn như kiều hối, các liên kết có lợi khác mà những người di cư phát triển và duy trì với đất nước quê hương, cũng như việc di cư trở lại.
John Kennan (2014) trong nghiên cứu “Immigration restrictions and labor market skills”, University of Wisconsin - Madison and NBER cho rằng sự khác biệt về mức thu nhập giữa các quốc gia chính là do sự khác biệt về năng suất lao động. Xu hướng di cư của lao động lành nghề nhiều hơn lao động phổ thông. Tác giả đã phân tích những tác động của di cư bằng cách xây dựng mô hình phân tích hiệu quả của quá trình di cư. Đồng thời, đề xuất giải pháp nới lỏng các rào cản về nhập cư nhằm tạo ra thị trường lao động tự do cho tất cả các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra có sự khác biệt giữa di chuyển lao động ở các nước đang phát triển và các nước phát triển. (1993) với nghiên cứu “Migration and trade: The case of the Philippineses” được thực hiện tại Philippines. Nghiên cứu đề cập đến đặc điểm của lao động di cư Châu Á, đại đa số 16 không có nghề nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp như công nhân xây dựng hoặc giúp việc nhà. Thêm vào đó, một đặc điểm khác của di cư lao động đó là di cư tạm thời.
Ở các quốc gia Tây Âu, công nhân nhập cư thường chọn định cư ở lại nước đến, còn các nước Châu Á thì ngược lại, họ cho rằng những lao động nhập cư thường không có nghề nghiệp, từ đó sẽ kéo theo nhiều hệ quả xã hội không mong muốn. Tác động của di cư và di chuyển lao động quốc tế đến kinh tế xã hội Các nghiên cứu đi trước đã phân tích và xem xét các tác động của di cư và di chuyển lao động quốc tế bao gồm: chi phí tâm lý xã hội và sự phát triển kinh tế.