Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế học với đề tài "Giải pháp phát triển xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á" do nghiên cứu sinh Lê Thị Như Quỳnh thực hiện tại Trường Đại học Hải Phòng, chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số 9.10), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Văn Cương và PGS.TS. Nguyễn Hoài Nam, hoàn thành và bảo vệ vào năm 2023.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
- Về mặt học thuật: Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã thúc đẩy sự hình thành các luồng di chuyển lao động xuyên quốc gia. Hoạt động xuất khẩu lao động (XKLĐ) chịu sự chi phối phức tạp từ môi trường kinh tế, khung khổ pháp lý của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và hành vi của người lao động. Phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế vĩ mô, phân tích lợi ích tài chính của dòng kiều hối hoặc xem xét di cư lao động quốc tế một cách khái quát. Luận án chỉ ra khoảng trống học thuật về việc thiếu các nghiên cứu làm rõ vai trò, cơ chế phối hợp và sự tương tác hữu cơ giữa ba tác nhân chủ yếu: Nhà nước, doanh nghiệp dịch vụ XKLĐ và người lao động trong tiến trình phát triển XKLĐ bền vững sang một khu vực thị trường tiếp nhận cụ thể.
- Về mặt thực tiễn: Đông Bắc Á là thị trường tiếp nhận lao động trọng điểm của Việt Nam, tập trung vào ba địa bàn chính gồm Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản. Năm 2019, số lượng lao động Việt Nam sang Nhật Bản đạt 80.000 người, Đài Loan đạt trên 54.000 người và Hàn Quốc đạt 7.215 người, chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài. Sau giai đoạn sụt giảm do đại dịch Covid-19 trong hai năm 2020 và 2021, khu vực này từng bước tiếp nhận trở lại (Đài Loan từ ngày 15/02/2022 và Nhật Bản từ tháng 03/2022). Tuy nhiên, hoạt động XKLĐ sang Đông Bắc Á vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: phương thức tổ chức còn mang nặng tính tự phát, tư duy sản xuất nhỏ, thiếu chiến lược dài hạn; chất lượng, ngoại ngữ và tính kỷ luật của người lao động còn thấp; hệ thống doanh nghiệp dịch vụ phần lớn có quy mô nhỏ, quản trị yếu và phụ thuộc vào môi giới nước ngoài; đồng thời phải chịu sự cạnh tranh từ Philippines và Indonesia.
Mục đích nghiên cứu: Xây dựng cơ sở lý thuyết về phát triển XKLĐ của một quốc gia đang phát triển; đánh giá thực tiễn các yếu tố và tác nhân ảnh hưởng đến hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á; đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát triển hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang khu vực này đảm bảo tính hiệu quả và bền vững.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về phát triển XKLĐ trong hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia đang phát triển; làm rõ các yếu tố và tác nhân tham gia phát triển XKLĐ.
- Xây dựng cơ sở lý thuyết về vai trò của các bên tham gia trong phát triển XKLĐ; xác định mối quan hệ tương tác giữa ba tác nhân chủ yếu: Nhà nước, doanh nghiệp XKLĐ và người lao động.
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển XKLĐ Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á trong giai đoạn vừa qua.
- Đánh giá thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố thuộc các bên tham gia đến hoạt động XKLĐ thông qua mối quan hệ tương tác giữa cơ chế chính sách của Nhà nước, hoạt động của doanh nghiệp XKLĐ và hành vi của người đi XKLĐ.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát triển XKLĐ Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á đảm bảo tính hiệu quả và bền vững.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Có các cách tiếp cận nào để phát triển XKLĐ sang khu vực thị trường nước ngoài?
- Các bên tham gia trong phát triển XKLĐ của một quốc gia đang phát triển có vai trò như thế nào? Các yếu tố thuộc các bên tham gia tác động đến phát triển XKLĐ của một quốc gia đang phát triển như thế nào?
- Cơ chế chính sách quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động tác động như thế nào đến hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ và người lao động ra nước ngoài làm việc?
- Thực trạng hoạt động XKLĐ Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á trong thời gian qua như thế nào?
- Các yếu tố thuộc các bên tham gia tác động như thế nào đến phát triển XKLĐ Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á?
- Giải pháp nào cần triển khai thực hiện gắn liền với vai trò của các bên tham gia, đặc biệt là vai trò của quản lý nhà nước trong phát triển hoạt động XKLĐ Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á đảm bảo tính bền vững?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phát triển XKLĐ của Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á theo lý thuyết các bên tham gia, tập trung vào ba chủ thể chính gồm Nhà nước, doanh nghiệp XKLĐ và người lao động.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu hoạt động XKLĐ chủ động, có tổ chức, hợp pháp thông qua các hiệp định liên chính phủ hoặc hợp đồng dịch vụ của các doanh nghiệp được cấp phép đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài (bao gồm lao động phổ thông, chuyên nghiệp, tu nghiệp sinh, thực tập sinh). Đề tài không nghiên cứu XKLĐ tại chỗ, XKLĐ khu vực biên giới giáp ranh, di cư tự do hoặc lao động phi chính thức.
- Khách thể nghiên cứu: Cán bộ quản lý Nhà nước về XKLĐ, cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ XKLĐ và người lao động tham gia XKLĐ.
- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp và người lao động trên lãnh thổ Việt Nam; thị trường tiếp nhận tại Đông Bắc Á gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.
- Phạm vi thời gian: Thực trạng giai đoạn 2000–2022, tập trung thu thập dữ liệu trong 10 năm gần đây và dự báo xu hướng đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước:
- Hướng nghiên cứu về làn sóng di cư và di chuyển lao động quốc tế: Mosley (1960–1970) phân tích các vấn đề thất nghiệp, nghèo đói dẫn đến di cư lao động quốc tế từ các nước nghèo. Neil G. Ruiz (2001) nghiên cứu mô hình Philippines, chỉ ra sự mất cân đối giữa trình độ đào tạo đại học/cao đẳng và cơ hội việc làm trong nước đã thúc đẩy chính phủ thiết lập hệ thống thể chế, cơ sở đào tạo và cơ quan tuyển dụng tư nhân để đưa hơn 10% dân số đi làm việc tại hơn 160 quốc gia. Báo cáo Di cư Thế giới của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM, 2018) và báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2018) chỉ rõ các dòng dịch chuyển lao động toàn cầu do biến đổi kinh tế, suy thoái môi trường và bối cảnh thị trường.
- Tranh luận về "chảy máu chất xám" (brain drain) và "tuần hoàn chất xám" (brain circulation): Adams (2003), Lowell (2002) và Lucas (2005) nhận định việc di chuyển quốc tế của lao động có học vấn gây suy giảm nguồn lực tại các nước gốc. Ngược lại, Tan (2007) khi khảo sát sự thiếu hụt y tá và công nhân công nghệ tại Philippines ghi nhận kiều hối và sự hồi hương có thể bù đắp một phần tổn thất. John Kennan (2014) giải thích chênh lệch thu nhập giữa các quốc gia xuất phát từ năng suất lao động và đề xuất giảm thiểu rào cản di cư. Alburo (1993) nhấn mạnh lao động di cư châu Á phần lớn là lao động phổ thông hoặc bán chuyên nghiệp và mang tính chất di cư tạm thời.
- Tác động tâm lý - xã hội và kinh tế của kiều hối: Các công trình của Fasick (1967), McKenzie (2006), Aguilera-Guzman và cộng sự (2004), Crawford-Brown (1999), Crawford-Brown và Rattray (2002), Smith, Lalonde và Johnson (2004), Suarez-Orozco và cộng sự (2002) phân tích các hệ quả tiêu cực đối với gia đình người di cư, hiện tượng "những đứa trẻ hàng thùng" bị trầm cảm, gián đoạn học tập và rạn nứt tình cảm cha mẹ - con cái. Về kinh tế, Kapur (2010), Leblang (2010), Leblang và Pandya (2014), Yang (2004), Tullao, Cortes và See (2007), Mansuri (2007) chỉ ra vai trò của kiều hối trong việc gia tăng chi tiêu giáo dục, y tế và đầu tư tư liệu sản xuất. Tuy nhiên, Acosta (2007), Rodriguez và Tiongson (2001), Rozelle và cộng sự (1999), Bussolo và Medvedev (2007) chỉ ra rủi ro suy giảm mức độ tham gia lực lượng lao động của các thành viên gia đình ở lại khi nhận được tiền gửi về.
- Khái niệm XKLĐ và chính sách quản lý: L. Alan Winters (2002) phân tích di chuyển thể nhân cung cấp dịch vụ theo Hiệp định GATS. June J. Lee (2005) nghiên cứu chính sách tiếp nhận lao động của Hàn Quốc. Báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2008), Sevil Acar (2008) và Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD, 2004) phản ánh sự bất bình đẳng, điều kiện làm việc kém an toàn và rủi ro bị bóc lột của lao động nữ. Nghiên cứu của Bashier và Wahban (2013), Bhaumik và cộng sự (2004), Di Gropelo (2010) đánh giá các yếu tố quyết định cầu lao động và vai trò của đào tạo kỹ năng. Nghiên cứu của Adrian Smith và cộng sự (2006), Christensen và Wibbels (2014), Boeri và cộng sự (2008), Caraway (2008), Robertson (2007), Vasilescu (2016) phân tích việc áp dụng các tiêu chuẩn lao động cốt lõi của ILO, các quy định pháp luật quản lý lao động nhập cư và sự hạn chế của tổ chức công đoàn.
Tổng quan các nghiên cứu trong nước:
- Đặng Nguyên Anh (2008) phân tích chính sách XKLĐ, vấn đề thu nhập, ngược đãi lao động và tình trạng lao động bỏ trốn hợp đồng tại các thị trường trọng điểm.
- Nguyễn Xuân Hưng (2015) đề xuất kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước, sửa đổi thể chế, cho phép đa dạng hóa loại hình doanh nghiệp tham gia XKLĐ và kiến nghị thành lập các trung tâm đào tạo lao động xuất khẩu cấp vùng tại ba miền Bắc, Trung, Nam gắn với chính sách hỗ trợ tái hòa nhập.
- Đoàn Thị Yến và Nguyễn Thị Minh Hiền (2013), Đoàn Thị Yến (2014) khảo sát các doanh nghiệp XKLĐ tại Hà Nội, đề xuất hoàn thiện công tác lập kế hoạch, xúc tiến marketing, nâng cao quy trình tuyển chọn, đào tạo định hướng và kiểm soát lao động ở nước ngoài.
- Đỗ Thị Kim Thu (2017) đề xuất các giải pháp truyền thông, giải quyết việc làm gắn với mục tiêu xóa đói giảm nghèo cho người lao động.
- Trần Nguyệt Minh Thu và cộng sự (2012) nghiên cứu khía cạnh giới và dòng tiền chuyển về của lao động xuất khẩu, kiến nghị cơ chế tư vấn pháp lý và quản lý tài chính cho người lao động.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
- Bổ sung cơ sở lý luận về phát triển XKLĐ trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động về kinh tế, chính trị và những thay đổi trong luật pháp, chính sách tiếp nhận của các quốc gia nhập khẩu.
- Vận dụng lý thuyết các bên tham gia (Stakeholder Theory) để làm rõ vai trò, chức năng và sự tương tác qua lại giữa ba nhóm tác nhân chính: cơ quan quản lý Nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ XKLĐ và cá nhân người lao động.
- Thực hiện nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đối với thị trường Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan), phân tích tác động trực tiếp của các nhóm yếu tố thuộc ba bên tham gia đối với kết quả XKLĐ sang khu vực này.
- Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ dựa trên sự phối hợp đa chiều giữa các bên tham gia xuyên suốt quy trình XKLĐ thay vì các đề xuất mang tính rời rạc, đơn lẻ.
- Định hình các quan điểm và giải pháp trung, dài hạn hướng tới phát triển XKLĐ sang Đông Bắc Á có chiều sâu, chú trọng chất lượng và tính bền vững đến năm 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng:
- Sức lao động và lao động: Luận án dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để phân biệt "sức lao động" (toàn bộ thể lực và trí lực của con người dùng trong sản xuất của cải) và "lao động" (hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm cải tạo tự nhiên). Kế thừa định nghĩa từ Từ điển tiếng Việt (2006) và Nguyễn Tiệp (2007), lao động là sự vận động của sức lao động, kết hợp với tư liệu sản xuất để tạo ra của cải.
- Thị trường lao động quốc tế: Khái niệm theo Nguyễn Xuân Hưng (2015), phản ánh quan hệ cung - cầu sức lao động vượt ra khỏi biên giới quốc gia, chịu sự chi phối mạnh mẽ từ thể chế, văn hóa và địa chính trị.
- Xuất khẩu lao động: Luận án tổng hợp các định nghĩa của Nguyễn Thị Hồng Bích (2007), ILO (1990), Đặng Đình Đào (2005), Nguyễn Xuân Hưng (2015) và Nghị định số 152/1999/NĐ-CP. XKLĐ được xác định là việc người lao động và chuyên gia di chuyển ra nước ngoài làm việc có thời hạn một cách hợp pháp, có tổ chức, dựa trên các hiệp định liên chính phủ hoặc hợp đồng dịch vụ của các tổ chức kinh tế được Nhà nước cấp giấy phép. Hàng hóa đem trao đổi là "sức lao động" – một loại hàng hóa đặc biệt gắn liền với thể nhân. Hoạt động này khác biệt với di cư lao động tự phát ở tính có tổ chức, có thời hạn và chịu sự quản lý, bảo hộ của Nhà nước.
- Lý thuyết các bên tham gia (Stakeholder Theory): Luận án sử dụng lý thuyết này làm khung phân tích trung tâm. Hoạt động phát triển XKLĐ của một quốc gia được cấu thành bởi sự tương tác giữa ba nhóm tác nhân trong nước: Quản lý Nhà nước (hoàn thiện thể chế, định hướng, đàm phán, bảo hộ), Doanh nghiệp dịch vụ XKLĐ (tìm kiếm hợp đồng, tuyển chọn, đào tạo, quản lý, xử lý tranh chấp) và Người lao động (cung cấp sức lao động, tự nguyện tham gia, tuân thủ kỷ luật). Ba tác nhân này chịu sự tác động đồng thời từ nhóm yếu tố thuộc thị trường nhập khẩu lao động nước ngoài (chính sách tiếp nhận, mức tiền lương, điều kiện làm việc và sự cạnh tranh từ các nước xuất khẩu khác).
Phương pháp luận và quy trình nghiên cứu:
- Tiếp cận hệ thống và toàn diện: Xem xét quy trình XKLĐ theo chuỗi 5 khâu liên hoàn: (1) Tìm kiếm, ký kết, thẩm định hợp đồng -> (2) Tuyển chọn lao động -> (3) Đào tạo và giáo dục định hướng -> (4) Quản lý lao động đang làm việc ở nước ngoài -> (5) Thanh lý hợp đồng và hỗ trợ tái hòa nhập.
- Tiếp cận có sự tham gia: Thu thập dữ liệu từ đại diện tất cả các chủ thể tham gia vào chu trình XKLĐ.
- Tiếp cận thể chế: Phân tích hoạt động của doanh nghiệp và người lao động trong mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống pháp luật của Nhà nước (Luật Doanh nghiệp, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng).
Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập các số liệu thống kê quốc gia, báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH), Cục Quản lý lao động ngoài nước (QLLĐNN), các ấn phẩm khoa học, sách, kỷ yếu hội thảo và báo cáo kinh doanh của các doanh nghiệp trong giai đoạn 2000–2022.
- Dữ liệu sơ cấp định tính: Áp dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc trực tiếp trong năm 2020 và 2021, thời lượng trung bình 90 phút/cuộc (có ghi âm và cam kết bảo mật thông tin). Mẫu gồm 20 cá nhân đại diện cho các bên tham gia:
- 05 cán bộ quản lý (giám đốc) các doanh nghiệp XKLĐ có quy mô khác nhau (ký hiệu: DN1 đến DN5).
- 10 người lao động đã hoàn thành hợp đồng XKLĐ từ Đông Bắc Á về nước (ký hiệu: LĐ01 đến LĐ10).
- 03 cán bộ quản lý Nhà nước thuộc Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ LĐTBXH (ký hiệu: QLNN01 đến QLNN03).
- 02 chủ doanh nghiệp tiếp nhận lao động Việt Nam tại Đài Loan.
- Dữ liệu sơ cấp định lượng: Khảo sát bằng bảng hỏi gửi trực tiếp và qua đường bưu điện:
- Mẫu doanh nghiệp: Khảo sát tại 40 doanh nghiệp XKLĐ (gồm 25 doanh nghiệp Nhà nước và 15 doanh nghiệp ngoài Nhà nước) tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trên tổng số 362 đơn vị được cấp phép toàn quốc (mỗi đơn vị gồm giám đốc và 1 cán bộ cấp phòng).
- Mẫu người lao động: Khảo sát 218 người lao động đang chuẩn bị hoặc đã từng đi XKLĐ sang Đông Bắc Á (độ tuổi 18–35; cơ cấu giới tính gồm 64,5% nam và 35,5% nữ).
- Kỹ thuật chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phi xác suất.
Phương pháp phân tích dữ liệu:
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để thực hiện các thống kê mô tả, tổng hợp dữ liệu, so sánh tỷ lệ phần trăm và biểu diễn qua bảng biểu, đồ thị; kết hợp phân tích chuỗi số liệu lịch sử để nhận định thực trạng và phục vụ dự báo.
| Nhóm đối tượng điều tra |
Quy mô mẫu |
Cơ cấu / Đặc điểm mẫu |
Phương pháp thu thập |
| Doanh nghiệp XKLĐ |
40 doanh nghiệp |
25 DNNN, 15 DNNNN; gồm giám đốc và cán bộ quản lý cấp phòng tại Hà Nội và TP.HCM |
Bảng hỏi khảo sát định lượng |
| Người lao động XKLĐ |
218 người |
Độ tuổi 18–35; tỷ lệ nam 64,5%, nữ 35,5%; đã hoặc chuẩn bị đi Đông Bắc Á |
Bảng hỏi khảo sát định lượng |
| Cán bộ quản lý doanh nghiệp |
05 người |
Giám đốc 5 doanh nghiệp XKLĐ quy mô khác nhau (DN1 - DN5) |
Phỏng vấn bán cấu trúc định tính |
| Lao động hồi hương |
10 người |
Lao động đã hoàn thành hợp đồng tại Đông Bắc Á trở về (LĐ01 - LĐ10) |
Phỏng vấn bán cấu trúc định tính |
| Cán bộ quản lý Nhà nước |
03 người |
Cán bộ Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ LĐTBXH (QLNN01 - QLNN03) |
Phỏng vấn bán cấu trúc định tính |
| Chủ sử dụng lao động nước ngoài |
02 người |
Chủ doanh nghiệp tiếp nhận lao động Việt Nam tại Đài Loan |
Phỏng vấn bán cấu trúc định tính |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố ở trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài theo hai khối nghiên cứu ngoài nước và trong nước. Các nghiên cứu quốc tế được phân tích theo các chủ đề: bối cảnh di chuyển lao động quốc tế (Mosley, Ruiz, IOM, ILO); tác động của dòng di cư đến chảy máu chất xám và bù đắp kiều hối (Adams, Lowell, Lucas, Tan, Kennan); các hệ lụy tâm lý - xã hội đối với người lao động và gia đình (Crawford-Brown, McKenzie, Aguilera-Guzman); vai trò kinh tế của kiều hối và sự suy giảm cung lao động tại chỗ (Yang, Tullao, Mansuri, Acosta); bản chất của xuất khẩu sức lao động theo các khuôn khổ thương mại và chính sách (Winters, Lee, ADB, UNCTAD, Caraway, Smith). Khối nghiên cứu trong nước điểm lại các công trình về chính sách di cư và quản lý lao động (Đặng Nguyên Anh, Nguyễn Xuân Hưng), công tác quản trị tại các doanh nghiệp dịch vụ (Đoàn Thị Yến, Nguyễn Thị Minh Hiền), giải pháp truyền thông và giảm nghèo (Đỗ Thị Kim Thu), cùng các vấn đề bình đẳng giới và dòng tiền chuyển về (Trần Nguyệt Minh Thu).
Từ việc tổng thuật tài liệu, chương 1 xác định 5 khoảng trống nghiên cứu chính: (1) Thiếu cập nhật bối cảnh quốc tế và chính sách mới của các nước tiếp nhận; (2) Chưa vận dụng khung lý thuyết các bên tham gia để giải thích sự tương tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động; (3) Thiếu nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về khu vực thị trường Đông Bắc Á; (4) Chưa xây dựng được giải pháp phối hợp đồng bộ giữa ba chủ thể xuyên suốt quy trình XKLĐ; (5) Cần giải pháp dài hạn hướng tới tính bền vững đến năm 2030.
Chương 2: Cơ sở lý luận và bài học thực tiễn về phát triển xuất khẩu lao động của một quốc gia
Chương 2 làm rõ bản chất kinh tế của XKLĐ là hoạt động xuất khẩu hàng hóa đặc biệt – sức lao động của con người, mang tính có tổ chức, có thời hạn và có sự quản lý của Nhà nước, phân biệt với các dòng di chuyển lao động tự phát. Luận án phân tích các đặc điểm kinh tế đối ngoại của XKLĐ ở các quốc gia đang phát triển: vừa giải quyết áp lực mất cân đối cung - cầu lao động nội địa, vừa mang lại nguồn thu ngoại tệ, đồng thời phải đảm bảo hài hòa lợi ích giữa ba bên tham gia (Nhà nước, doanh nghiệp dịch vụ, người lao động).
Chương 2 thiết lập mô hình nghiên cứu phát triển XKLĐ dựa trên lý thuyết các bên tham gia (Stakeholder Theory), gồm 4 nhóm yếu tố chi phối: (1) Nhóm quản lý Nhà nước (thể chế, pháp luật, hiệp định song phương, giám sát, hỗ trợ chính sách); (2) Nhóm doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ XKLĐ (năng lực tài chính, trình độ cán bộ quản lý, quy trình lập kế hoạch, công tác tuyển chọn, đào tạo định hướng và quản lý lao động tại nước ngoài); (3) Nhóm người lao động (trình độ chuyên môn kỹ thuật, ngoại ngữ, kỷ luật lao động và năng lực tài chính ban đầu); (4) Nhóm thị trường tiếp nhận lao động (nhu cầu ngành nghề, mức lương, điều kiện làm việc, luật pháp nước tiếp nhận và sự cạnh tranh từ các nước cung ứng lao động khác). Luận án cũng phân tích quy trình 5 bước trong chuỗi cung ứng dịch vụ XKLĐ và tổng kết bài học kinh nghiệm phát triển XKLĐ của Philippines (quản lý qua POEA, đào tạo định hướng bắt buộc PDOS), Thái Lan và Indonesia, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng phát triển xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á
Chương 3 trình bày bức tranh toàn diện về XKLĐ của Việt Nam giai đoạn 2000–2022. Tác giả khẳng định Đông Bắc Á là thị trường tiếp nhận lớn nhất của lao động Việt Nam, thể hiện qua các số liệu thống kê:
| Thị trường tiếp nhận tại Đông Bắc Á |
Số lượng lao động Việt Nam năm 2019 (người) |
Thời điểm chính thức tiếp nhận lại lao động sau dịch Covid-19 |
| Nhật Bản |
80.000 |
Tháng 03/2022 |
| Đài Loan |
Trên 54.000 |
Ngày 15/02/2022 |
| Hàn Quốc |
7.215 |
Giai đoạn năm 2022 |
Thông qua các bảng biểu khảo sát thực nghiệm, chương 3 làm rõ các khía cạnh:
- So sánh các đặc điểm của chương trình Thực tập sinh kỹ năng (TTKT) và Tu nghiệp sinh (TNS) tại Nhật Bản (Bảng 3.3) cùng mức thu nhập bình quân theo ngành nghề tại các nước Đông Bắc Á (Bảng 3.4).
- Năng lực quản trị của doanh nghiệp XKLĐ: Đánh giá trình độ của cán bộ quản lý (Bảng 3.5, 3.6); tỷ lệ doanh nghiệp có bộ phận chuyên trách lập kế hoạch XKLĐ (Bảng 3.7, Hình 3.2); tỷ lệ doanh nghiệp thành lập bộ phận theo dõi, quản lý lao động ở nước ngoài (Bảng 3.8); tổng hợp đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp (Bảng 3.9). Kết quả cho thấy nhiều doanh nghiệp thiếu bộ phận chuyên trách lập kế hoạch dài hạn, cán bộ còn hạn chế về ngoại ngữ và hiểu biết pháp lý quốc tế.
- Đặc điểm nguồn lao động: Phân tích cơ cấu lao động theo học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật (Bảng 3.10), nhận định phần lớn là lao động phổ thông, thiếu kỹ năng nghề cao. Đánh giá thái độ, tác phong và tính kỷ luật của người lao động (Bảng 3.11). Tác động của rào cản chi phí ban đầu và khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng đến quyết định tham gia XKLĐ (Bảng 3.12).
- Quản lý Nhà nước và đặc điểm thị trường tiếp nhận: Đánh giá hiệu lực của hệ thống chính sách, thủ tục hành chính và bảo hộ công dân (Bảng 3.13); đánh giá mức độ hấp dẫn và các rào cản kỹ thuật của các thị trường Đông Bắc Á (Bảng 3.14).
Đánh giá tổng hợp chỉ ra các yếu tố tích cực (nhu cầu tiếp nhận lớn do già hóa dân số tại Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc; chính sách khuyến khích của Chính phủ Việt Nam) cùng các rào cản chủ yếu (doanh nghiệp quy mô nhỏ, phụ thuộc vào môi giới; chi phí xuất cảnh thực tế cao; tỷ lệ lao động vi phạm kỷ luật, bỏ trốn khỏi hợp đồng còn diễn biến phức tạp).
Chương 4: Một số giải pháp phát triển xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á
Chương 4 phân tích bối cảnh kinh tế quốc tế và trong nước trong giai đoạn 10 năm tới, nhận diện điểm mạnh, điểm yếu của lao động Việt Nam và xu hướng chuyển dịch nhu cầu của thị trường Đông Bắc Á sang tiếp nhận lao động kỹ thuật, giảm dần lao động phổ thông đơn thuần. Trên cơ sở quan điểm và mục tiêu phát triển XKLĐ bền vững đến năm 2030, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp gắn với các bên tham gia:
- Nhóm giải pháp đối với Nhà nước: Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; tăng cường ký kết các hiệp định hợp tác lao động song phương; chuẩn hóa thủ tục thẩm định hợp đồng; tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực, thu phí vượt quy định; nâng cao năng lực của Ban Quản lý lao động tại các cơ quan đại diện ngoại giao ở Đông Bắc Á để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
- Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp dịch vụ XKLĐ: Nâng cao năng lực tài chính và quản trị doanh nghiệp; thành lập và chuyên nghiệp hóa bộ phận lập kế hoạch, xúc tiến thị trường; giảm bớt sự phụ thuộc vào các tổ chức môi giới trung gian; cải tiến quy trình tuyển chọn; đổi mới nội dung giáo dục định hướng về văn hóa, ngoại ngữ và pháp luật; chủ động thành lập bộ phận thường trực tại nước tiếp nhận để hỗ trợ, quản lý và giải quyết tranh chấp phát sinh.
- Nhóm giải pháp đối với người lao động: Chủ động học tập, nâng cao trình độ tay nghề, ngoại ngữ trước khi xuất cảnh; tìm hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ theo hợp đồng; nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động và pháp luật nước sở tại; tích lũy và sử dụng vốn kiều hối hợp lý để tái hòa nhập vào thị trường việc làm trong nước sau khi về nước.
- Nhóm giải pháp phối hợp giữa Nhà nước và doanh nghiệp: Đẩy mạnh xã hội hóa công tác đào tạo nghề phục vụ XKLĐ; liên kết chặt chẽ giữa các trung tâm đào tạo công lập với doanh nghiệp dịch vụ để tổ chức đào tạo theo đơn đặt hàng của đối tác Đông Bắc Á; thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin thị trường giữa Cục Quản lý lao động ngoài nước, doanh nghiệp XKLĐ và chính quyền địa phương nhằm tạo nguồn lao động minh bạch, hạn chế trung gian bất hợp pháp.
Ngoài ra, chương 4 nêu các kiến nghị cụ thể nhằm kiện toàn bộ máy cơ quan quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ LĐTBXH và tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc quản lý, xác nhận hồ sơ và hỗ trợ các đối tượng chính sách đi làm việc ở nước ngoài.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận:
- Hệ thống hóa và phát triển khung lý thuyết về phát triển XKLĐ của một quốc gia đang phát triển, bổ sung yêu cầu phát triển bền vững theo cả chiều rộng (số lượng, mở rộng thị trường) và chiều sâu (nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và đảm bảo an toàn cho người lao động) trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.
- Xây dựng mô hình lý thuyết tiếp cận theo các bên tham gia (Stakeholder Theory), xác định rõ nội hàm và sự tác động của 4 nhóm yếu tố: quản lý Nhà nước, năng lực quản trị của doanh nghiệp dịch vụ XKLĐ, đặc điểm của người lao động và đặc thù thị trường tiếp nhận.
- Đề xuất khung phân tích về mối quan hệ tác động qua lại giữa các bên tham gia; bổ sung luận cứ về sự cần thiết phải thiết lập cơ chế phối hợp ba bên giữa Nhà nước, doanh nghiệp dịch vụ XKLĐ và chính quyền địa phương trong việc tạo nguồn và quản lý chu trình XKLĐ ở tầm quốc gia.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực trạng có hệ thống về hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á giai đoạn 2000–2022; làm rõ thực trạng cơ cấu lao động (chủ yếu là lao động phổ thông, hạn chế về kỹ năng và ngoại ngữ) cùng các tồn tại trong quản trị doanh nghiệp (thiếu bộ phận lập kế hoạch, hạn chế trong kiểm soát lao động ở nước ngoài).
- Định lượng hóa các đánh giá của cán bộ quản lý Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động về các yếu tố chi phối sự phát triển của hoạt động XKLĐ sang Đông Bắc Á thông qua hệ thống khảo sát thực nghiệm.
- Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ gắn với trách nhiệm cụ thể của từng chủ thể tham gia (Nhà nước, doanh nghiệp, người lao động) và giải pháp phối hợp công - tư trong đào tạo nguồn nhân lực, định hướng chiến lược đến năm 2030 nhằm duy trì thị phần tại Đông Bắc Á và chuyển dịch sang phân khúc lao động có tay nghề cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Do hạn chế về nguồn lực tiếp cận, nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phi xác suất (khảo sát định lượng 40 doanh nghiệp tập trung tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trên tổng thể 362 đơn vị; khảo sát 218 người lao động). Mức độ đại diện mang tính tương đối cho toàn bộ hệ thống doanh nghiệp và lao động XKLĐ cả nước.
- Quá trình điều tra sơ cấp diễn ra chủ yếu trong năm 2020 và 2021 – thời điểm chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19, do đó một số đánh giá về thị trường và hành vi của người lao động phản ánh bối cảnh gián đoạn đột xuất.
- Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở hình thức XKLĐ hợp pháp, có tổ chức sang 3 thị trường Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan), chưa khảo sát các thị trường tiếp nhận khác hoặc các hình thức lao động di cư tự do.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất với quy mô mẫu doanh nghiệp và người lao động lớn hơn trên phạm vi toàn quốc để nâng cao tính đại diện.
- Nghiên cứu cập nhật các biến động chính sách và nhu cầu thị trường của Đông Bắc Á trong giai đoạn phục hồi bình thường mới sau năm 2022.
- Mở rộng phân tích so sánh mô hình phát triển XKLĐ của Việt Nam sang Đông Bắc Á với các khu vực thị trường tiếp nhận khác (châu Âu, Trung Đông) hoặc đi sâu vào nghiên cứu cơ chế hỗ trợ tái hòa nhập thị trường việc làm trong nước cho lực lượng lao động hồi hương.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Quản lý lao động ngoài nước, các Sở LĐTBXH địa phương): Cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện quy trình thẩm định hợp đồng cung ứng lao động, thiết lập cơ chế giám sát phí dịch vụ và nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân tại Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc.
- Đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ XKLĐ: Là tài liệu tham khảo để chuẩn hóa quy trình 5 bước trong chuỗi cung ứng dịch vụ; giúp các nhà quản trị nhận thức rõ vai trò của công tác lập kế hoạch dài hạn, đào tạo giáo dục định hướng và thành lập bộ phận thường trực quản lý lao động ở nước tiếp nhận nhằm hạn chế rủi ro phá vỡ hợp đồng.
- Đối với các nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế lao động: Cung cấp khung lý thuyết vận dụng lý thuyết các bên tham gia trong nghiên cứu di chuyển lao động quốc tế; đồng thời cung cấp hệ thống tổng quan tài liệu phong phú về các công trình nghiên cứu di cư lao động trong và ngoài nước.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án xác định các bên tham gia chủ yếu vào phát triển XKLĐ của Việt Nam gồm những chủ thể nào?
Theo khung lý thuyết của luận án, ba bên tham gia cốt lõi trong nước gồm: (1) Cơ quan quản lý Nhà nước về XKLĐ (giữ vai trò định hướng, tạo lập thể chế pháp lý và giám sát); (2) Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ XKLĐ (chủ thể trực tiếp ký kết hợp đồng, tuyển chọn, đào tạo và quản lý lao động); (3) Người lao động đi XKLĐ (chủ thể sở hữu sức lao động, trực tiếp tham gia làm việc ở nước ngoài). Ngoài ra còn có sự tác động từ các tác nhân ngoài nước là thị trường tiếp nhận, đối tác môi giới và chủ sử dụng lao động.
-
Quy mô mẫu điều tra thực nghiệm định tính và định lượng của luận án được thực hiện cụ thể như thế nào?
Luận án kết hợp cả hai phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phi xác suất:
- Điều tra định tính: Phỏng vấn sâu 20 đối tượng (05 giám đốc doanh nghiệp XKLĐ DN1–DN5; 10 lao động hồi hương LĐ01–LĐ10; 03 cán bộ Cục Quản lý lao động ngoài nước QLNN01–QLNN03; 02 chủ sử dụng lao động tại Đài Loan) với thời lượng 90 phút/cuộc trong các năm 2020–2021.
- Điều tra định lượng: Sử dụng bảng hỏi khảo sát 40 doanh nghiệp XKLĐ (25 DNNN, 15 DNNNN tại Hà Nội và TP.HCM) và 218 người lao động (độ tuổi 18–35; tỷ lệ nam 64,5%, nữ 35,5%).
-
Số lượng lao động Việt Nam xuất khẩu sang ba thị trường Đông Bắc Á trong năm 2019 đạt mức bao nhiêu?
Năm 2019 (giai đoạn trước đại dịch Covid-19), số lượng lao động Việt Nam sang Nhật Bản đạt 80.000 người, sang thị trường Đài Loan đạt trên 54.000 người và sang Hàn Quốc đạt 7.215 người, chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong tổng số lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc.
-
Sau đại dịch Covid-19, thị trường Đài Loan và Nhật Bản mở cửa tiếp nhận lại lao động Việt Nam từ thời điểm nào?
Căn cứ dữ liệu trong luận án, thị trường Đài Loan chính thức tiếp nhận trở lại lao động nước ngoài từ ngày 15/02/2022 và Nhật Bản chính thức cho phép thực tập sinh nhập cảnh trở lại từ tháng 03/2022.
-
Tiếp cận theo hệ thống, quy trình hoạt động XKLĐ của doanh nghiệp được luận án phân chia thành các khâu nào?
Quy trình XKLĐ được nghiên cứu theo chuỗi liên hoàn gồm 5 khâu: (1) Tìm kiếm, ký kết và thẩm định hợp đồng cung ứng; (2) Tuyển chọn người lao động; (3) Đào tạo và giáo dục định hướng; (4) Quản lý người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài; (5) Thanh lý hợp đồng và hỗ trợ người lao động về nước tái hòa nhập.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Thị Như Quỳnh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển xuất khẩu lao động của một quốc gia đang phát triển trên nền tảng lý thuyết các bên tham gia (Stakeholder Theory), làm rõ mối quan hệ tương tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp dịch vụ và người lao động. Dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2000–2022 và kết quả điều tra sơ cấp tại 40 doanh nghiệp cùng 218 người lao động, công trình đã phản ánh thực trạng phát triển XKLĐ của Việt Nam sang ba thị trường trọng điểm Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan), chỉ ra các thành tựu về quy mô cũng như những rào cản về chất lượng nguồn tuyển, hạn chế quản trị và chi phí trung gian. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án bao quát trách nhiệm của từng chủ thể và cơ chế phối hợp công - tư trong đào tạo, định hướng phát triển bền vững hoạt động xuất khẩu lao động sang khu vực Đông Bắc Á đến năm 2030.