MỞ ĐẦU. PHAN THU HAT: NOI DUNG VA KẾT QUÁ NGHIÊN CÚU. PHẦN THỨ BA : KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. Do điều kiện, để tài triển khai phối hợp nhiều đơn vị và nhiều thành viên thực hiện nên không tránh được khuyết điểm, rất mong các đồng chí và các ngành quan tâm tham gia góp ý kiến cho bản tháo báo cáo đự thảo.
Ban chủ nhiệm đề tài xin cảm ơn sở Khoa học-Công nghệ, sở Văn hoá- Thông tin, Ban Tuyên giáo Tỉnh nỷ và các đơn vị nghề nghiệp khác. PHAN THU HAI NOI DUNG VA KET QUÁ NGHIÊN CỨU. CHUONG I: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH VĂN HỌC-NGHỆ THUẬT TỈNH SƠN LA NHŨNG NĂM GẦN ĐÂY.1 - Tình hình khái quát chung về văn hoe-nghê thuật Sơn La : Văn học-nghệ thuật Sơn La nói riêng va sang tác văn học-nghệ thuật các dân tộc Tây Bắc nói chung, được sáng tạo, bắt nguồn từ đời sống lao động và phát triển của xã hội, được nhân dân tiếp nhận, lưu truyền lại bằng ký tự, bằng truyền miệng, bao gồm nhiều thể loại : Thơ, ca, truyện cổ tích, truyền thuyết, sử thi, truyện thần thoại, truyện ngụ ngôn, Lục ngữ, dân ca, truyện cười, câu đố, hát đồng dao, truyện thơ, mo chang, cúng bái, lễ tục. Đó là những tác phẩm đã được lưu truyền, bảo tồn, sử dụng nằm trong kho tàng văn nghệ dân gian của tỉnh.
Những tác phẩm cổ bằng ký tự hiện nay trong kho văn hoá của tỉnh được bảo tồn có hai loại chữ : Chữ Thái, chữ Đao (Giống chit Nom của đân tộc Dao). Từ khi có Đảng lãnh đạo, nhân dân các dân tộc Sơn La nói chung và các văn nghệ sĩ nói riêng, việc sáng tác, và phổ biến đã và đang được khuyến khích; việc sáng tác và biểu diễn đã có định hướng rõ rệt. Trong kháng chiến chống giặc Pháp, Nhật và Mỹ; Đề tài yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc là chủ đề chính được quan tâm, khai thác trong sáng tác văn học-nghệ thuật của cả nước nói chung và văn nghệ sĩ Sơn La nói riêng - Nhiều tác phẩm đã được xây đựng hình tượng điển hình về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tấm gương hy sinh vì nước, vì dân, những tập thể điển hình, những cá nhân tiên tiến. Sau hoà bình lập lại (1954), đề tài xây dựng đất nước được coi trọng, rồi những tác phẩm vừa sản xuất vừa chiến đấu, động viên sức người, sức của cho chiến trường đánh thắng.
Về sau đề tài xây dựng được gắn liên với bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng của Đảng, của đất nước ta mãi mãi là định hướng cho cảm xúc sáng tạo của văn nghệ sĩ nói chung.2 - Thưc trang về đôi ngũ văn nghệ sĩ của tỉnh Sơn La : Kể từ ngày thành lập Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh Sơn La (Năm 1983 - 1984) cho đến này (Tháng 6 năm 20058), số hội viên Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh, tổng số : 246 hội viên. Trong đó số hội viên nằm ở các chuyên ngành như sau: - Chuyén nganh van hoc : c6 139 hội viên. Trong đó có 122 nam, 17 nữ, 57 đảng viên.
Về trình độ chuyên môn có 46 đại học; về dân lộc : 56 dân tộc Kinh, 48 dân tộc Thát, 3 dân tộc Mông, I6 dân tộc Mường, 3 dân tộc Đao, 2 dân tộc Tày, | dan t6c Kho Mu. - Chuyên ngành âm nhạc, ca hát : có 40 hội viên. Trong đó nữ có l4, nam có l7; 13 là đảng viên. Về trình độ chuyên môn ; 7 nhạc sĩ, về dân tộc : Kinh có 9, Thái có 15, Mường có 5, Đao có 1, Khơ Mú có I.
- Chuyên ngành Mỹ thuật : Có 11 hội viên. Trong đó nữ có 4, nam có 7, đảng viên có 2. Về chuyên môn : 9 đại học. Về dân tộc : Kinh có 9, Thái có3.
- Chuyên ngành Văn nghệ dân gian : Có 13 hội viên. Trong đó 13 nam va 10 đăng viên. Trình độ chuyên môn : 7 đại học, dân tộc Thái có 6, Mường có 4, Dao có 1, Mong có L, Kinh có I. - Chuyên ngành Nhiếp ảnh nghệ thuật : Có 12 hội viên.
Trong đó có 12 nam; đẳng viên 6; về đân tộc : Kính có 9, Thái có I, Mường có 2. - Chuyên ngành Kiến trúc, xây dựng : có 12 hội viên. Trong đó có 8 đảng viên. - Chuyên ngành Nghệ sĩ múa : Có 17 hội viên.
Trong đó có 4 dang viên; 12 nam, 5 nữ. - Chuyên ngành Điện ảnh : Có 1 hội viên là đảng viên - Chuyên ngành Văn học-Nghệ thuật các đân tộc thiểu số Việt Nam : Có 27 hội viên. Tóm lại : Đến nay, toàn tỉnh có 246 hội viên Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh-Sơn La. Trong đó : + 200 hội viên đang hoạt động, công tác.
+ 15 hội viên chuyển vùng, chuyển công tác. +31 hội viên về cõi vĩnh hằng DANH SÁCH HỘI VIÊN (Tính đến ngày 11/07/2005) STT| CACCHUYEN |TỔNG |NAM | NỮ | TRÌNH ĐỘ | DANG DÂN TỘC NGHANH SỐ | |(ĐẠIHỌC) (VIÊN | Thấi| Kinh Mông |Mường| Dao 01 ¡- Tổng số hội viên | 247 204 | 43 102 10! | 8) 95 3 16 2 200 | - Dang hoat dong : , 32 | -Da mat 15_ | - Chuyén di 02_ | Chuyên nghành: - Văn + Thơ 139 | 122 | 17 36 57 | 48 | 56 3 - Am nhạc + Hát 40 26 ¡| 14 7 13 15 9 5 1 - VN Dan gian 13 J3 ` 7 10 6 ] 2 4 ] - Múa + S. Khấu 17: 13 5 4 6 ] pc 5 - Nhiếp ảnh | 12; 12 - lÌ | 6 1 9 | 2 | - M¥ thuat (12 | 8 4/ 10 | 2 2 9 | | ị ! - Riến trúc 12 7 12 7 | i §& | 2 10 | i - Dién anh ee ee | 1 fot | ] - Nghé nhan ; 1 | 1 | | | - Lý luận phê bình Có 9 chuyên ngành văn học-nghệ thuật : 0I - Văn thơ 02 - Văn nghệ dân gian 03 - Âm nhạc + thanh nhạc 04 - Múa 05 - Nhiếp ảnh 06 - Mỹ thuật 07 - Kiến trúc 08 - Sân khấu biểu diễn 09 - Điện ảnh - kịch bản truyền hình. 10 - Lý luận phê bình : chưa có.
Có các Chỉ hội chuyên ngành văn học-nghệ thuật : O1 - Chi héi Van nghé dan gian 02 - Chỉ hội Nghệ sĩ múa 03 - Chỉ hội Nhiếp ảnh 04 - Chi hội Kiến trúc và Xây dựng 05 - Chỉ hội VH-NT các dân tộc thiểu số VN Sơn La. 06 - Bộ phận Mỹ thuật Ø7 - Bộ phận thơ văn. Các Chỉ hội địa phương gồm có : Ol - Chi hoi VH-NT huyện Yên Châu 02 - Chí hội VH-NT huyện Sông Mã 03 - Chỉ hội VH-NT huyện Quỳnh Nhai 04 - Chi hội VH-NT huyện Phù Yên 05 - Chỉ hội VH-NT huyện Thuận Châu 06 - Chỉ hội VH-NT lâm thời huyện Mộc Châu Về trình độ học vấn : - Có 2 thạc sĩ , - 101 dai hoc - 91 cao ding - 52 phổ thông các cấp.3 - Thực trạng về tác phẩm : Từ những năm đầu thế kỷ 21 này, nhìn lại thành tựu sáng tác văn học- nghệ thuật Sơn La từ đầu thế ký 20 đến nay. Những người sáng tác văn học- nghệ thuật về Sơn La không nhiều.
Những người con của các dân tộc Sơn La, sáng tác về Sơn La cũng có nhưng íLỏi và hiếm hoi. Song cũng may mắn khi nói về để tài cách mạng, về kháng chiến chống - thực đân Pháp; Mang van hoc : Thơ có Cảm Giang, Gia Dũng; văn xuôi có tác phẩm "Miền Tây", 'Vợ chồng A Phú" của Tô Hoài; "Rừng động” của cố nhà văn Mạc Phi, "Ký sông Đà" của Nguyễn Tuân, là những tài sản vô cùng quí giá đối với các dân tộc Sơn La và đồng bào cả nước, Đó là những nhà văn, nhà thơ dân tộc Kinh, ở miền xuôi, viết về miễn núi và dân tộc. Còn các tác giả người đân tộc Sơn La có các nhà thơ : Lò Văn Mười, Cầm Biêu, Cầm Văn Thương, Luong Qui Nhan, Ludng Qui, Dinh Son, Lo Van Cay, LO Van Si, Lo Van E, Hoàng Nó, Hà Lương, Lò Thị So. Nay số nhà thơ này đã về với tổ tiên cả rồi, song tác phẩm của họ còn đọng mãi trong lòng nhân dân các dân tộc.
+ Về Văn xuôi : văn xuôi ở Sơn la phát triển chậm, chưa được sự chú ý phát huy mảng văn xuôi này đúng với sự cần thiết của chuyên ngành văn học. Những năm gần đây mới xuất hiện những tác giả và tác phẩm : tập truyện "Những bông ban tím", "Vùng đổi gió quần" của Sa Phong Ba; “Hai người mẹ”, "Chom và Sa” (Đường rừng) kịch bản phim truyện của Cầm Ky; "Con thuyền lá, "Cửa hàng dược trong nghĩa wang" của Cảm Hùng; tiểu thuyết "Mối tình Mường Sinh" của Vương Trung; tập ký "Bông ban đầu mùa” của Lồ Văn Muôn. Những tác phẩm đã có thiện cảm và ấn tượng tốt đẹp về phong cách thể hiện, cách cảm cách nphï, sự sáng tạo của riêng họ. Do điều kiện khó khăn về kinh phí xuất bản, tỉnh chưa bạn hành cơ chế chính sách đầu tư, hỗ trợ tác giả phổ biến tác phẩm, hoặc hỗ trợ đầu tư cho các công trình nghiên cứu có giá trị.
Nhiều người sáng tác đã lâu vẫn chưa có đầu sách xuất bản, mặc dù chất lượng tác phẩm đã được thẩm định, chất lượng tốt. HI Có nhiều tác phẩm đã được trao giải, mới chỉ được đăng tai trên các tờ báo, đài, tạp chí Suối Reo. Song phần lớn số hội viên sáng tác văn, thơ ở Sơn La có tuổi đời từ 50 - 70. cá biệt trêm 80 tuổi.
Số trẻ say mê sáng tác văn học có nhưng không nhiều: Với I2 dân tộc cơ bản cư trú tại Sơn La, mới tập hợp, bồi dưỡng và kết nạp hội viên Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh được 7 dân tộc : Dân tộc Kinh, dân tộc Thái, đân tộc Mường, dân tộc HMông, dân tộc Dao, đân tộc Tay, dan tộc Khơ Mú, số dân tộc còn lại chưa phát hiện được người nào để bồi dưỡng trở thành hội viên. Nhìn chung, phong trào sáng tác văn học-nphệ thuật các dân tộc ở Sơn La ngày càng phát triển. Số tác phẩm và tác giả Sơn La đã được giới văn học- nghệ thuật cả nước biết và đón đọc. Sơn La là một tỉnh nghèo nhất trong 7 tỉnh miền núi phía bắc.
Kết quả đạt được trong sự nghiệp văn học nói riêng và văn hoc-nghé thuật nói chung đều gắn bó với hiệu quả phát triển kinh tế - chính trị - xã hội - an ninh - quốc phòng Sơn La.