CHƯƠNG 1 NHUNG VAN ĐÈ CƠ BẢN VE SAN PHAM DỊCH VỤ NGAN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NGÂN HANG THƯƠNG MẠI VA SAN PHAM DỊCH VU CUA NGAN HÀNG THUONG MẠI 1. Khái niệm về ngân hàng thương mai Ké từ khi bat đầu hình thành và phát triển cho đến ngày nay, ngân hàng đã chứng minh là một loại hình tô chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Tuy nhiên người ta vẫn chưa đưa ra được một khái niệm chung thống nhất về ngân hàng trên toàn thé giới.Fitch “Tổ chức ngân hang là một công ty nhận tiền gửi, thực hiện cho vay, thanh toán séc và thực hiện các dịch vụ liên quan cho công chúng.
NHTM đầu tư quỹ từ các người gửi tiền để cho vay”; theo Peter S.Rose “ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán thực hiện nhiều chức năng tài chính so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nên kinh tế”. Ở Việt Nam, theo điều 20 luật các TCTD thông qua ngày 11/12/1997 và luật các TCTD có sửa đối năm 2004 quy định “NHTM là một loại hình tô chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan” trong đó “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiên tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán” Hoạt động ngân hàng ra đời cách đây hơn 2000 năm với hoạt động bảo quản, giữ hộ tiền và đổi tiền thưởng hoa hồng,.sau đó nó có bước phát triển cao hơn với sự ra đời của những hiệu cầm đồ, những kẻ cho vay nặng lãi. Dần dần để đáp ứng nhu cầu phát triển của nên kinh tế, ngân hàng đã mở rộng nhiều sản phẩm dịch vụ tiện lợi và hoàn hảo hơn và trở thành một thực thể kinh tế quan trọng được ví như mạch máu lưu thông của nên kinh tế. Sản phẩm dịch vụ của ngần hang thương mại 1.
Khái niệm sản phẩm dịch vụ ngân hàng thương mại a. Nhận thức chung về dich vụ Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà một phía có thé đem lại cho bên kia mà không thé nhìn thấy được, không thé tách rời khỏi đối tượng cung cấp, có khả năng thay đổi và không dẫn đến sở hữu một vật nào cả. Cũng như những sản phẩm thuần tuý, bất kỳ một sản phẩm dịch vụ nào cũng được khách hàng mua do đó nó mang lại một số lợi ích cụ thể. Mọi sản phẩm đều được coi như một nhóm các đặc điểm đưa ra khả năng thoả mãn nhu cầu nhất định nào đó.
Các đặc điểm hay tính năng mới được phát triển phụ thuộc vào khả năng sáng tạo của các nhà cung cấp. Dịch vụ có những đặc tính sau: - Dich vụ có tính vô hình - Dịch vụ mang tính thống nhất. - Dịch vụ do nhiều yếu tố cau thành Ba đặc trưng trên làm cho dịch vụ thé hiện ở nhiều mức độ khác nhau, vì thế điều cần thiết nhất đối với tổ chức khi đưa ra một chiến lược sản phẩm dịch vụ là nhận thức rõ ràng về những đặc trưng này và có biện pháp giải quyết thoả đáng, tìm cách biểu hiện sản phầm dịch vụ của mình dễ hiểu hơn cho khách hàng. Khái niệm sản phẩm dịch vụ ngân hàng Các sản pham dịch vụ ngân hàng rất đa dạng và phong phú, theo luật các TCTD thì “Sản phẩm dịch vụ ngân hàng là những nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện trong việc huy động các nguôn vốn tiền tệ và đầu tư số vốn huy động được; cấp tín dụng, phục vụ thanh toán cho khách hàng và làm các dich vu khác theo sự uy thác của khách hang”.
Các sản phẩm dịch vụ chủ yếu của NHTM được thể hiện ở nội dung các khoản mục thuộc bảng tổng kết tài sản hay bảng cân đối kế toán của ngân hàng và có thé phân chúng thành ba nhóm đó là: Nhóm 1: Các sản phẩm huy động vốn - tiền gửi (thuộc nghiệp vụ tài sản nợ): phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM, bao gồm sản phẩm nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, đi vay và huy động khác. Nhóm 2: Các sản phẩm cho vay và đầu tư (thuộc nghiệp vụ tài sản có): phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm tìm kiếm lợi nhuận cũng như đảm bảo an toàn của NHTM, bao gồm dịch vụ ngân quỹ, tín dụng, đầu tư tài chính, và các sản phẩm dịch vụ khác. Nhóm 3: Các sản pham dich vụ trung gian: Là các sản pham mà NHTM cung ứng cho khách hàng dé nhận phi, hoa hồng gồm sản phẩm dịch vụ thanh toán và các sản phẩm khác theo yêu cầu, uỷ nhiệm của khách hàng. Tóm lại ba nhóm sản phẩm nay là một thé thống nhất có quan hệ mật thiết với nhau, tác động hỗ trợ nhau, giúp cho NHTM phát huy hết sức mạnh tổng hợp và tạo ra vị thế trong cạnh tranh đối với NHTM khác.
Khái quát các sản phẩm dịch vụ NHTM chủ yếu Các SPDV Huy động khác von Dién tir SPDV Thanh San pham dich toan vu NHTM Đầu tư trên TTTC Kinh doanh ngoại tệ Bảo lãnh c. Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ NHTM Sản phẩm NHTM không trực tiếp tham gia vào sản xuất lưu thông hàng hoá mà thực hiện các chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và làm dịch vụ tiên tệ, tư vấn tài chính cho khách hàng,.Thông qua đó NHTM nam trong tay một bộ phan lớn của cải của xã hội dưới dang giá trị nhưng không có quyền sở hữu chúng, mà chỉ có quyền sử dụng với những điều kiện ràng buộc, đòi hỏi NHTM phải chịu trách nhiệm vật chất đối với những người chủ sở hữu thực sự của các tài sản này. Chính nguyên liệu kinh doanh chủ yếu của NHTM là quyền sử dụng các khoản tiền tệ - nguyên liệu có tính xã hội hoá và tính nhạy cảm cao đã làm cho các sản phẩm dịch vụ NHTM mang nhiều đặc điểm riêng biệt cụ thể như sau: Thứ nhất: Tính đa dang phức tap Do khách hang sử dụng san phẩm của NHTM là những tô chức kinh tế, xã hội, doanh nghiệp, cá nhân có đặc điểm khác nhau về năng lực tài chính, khả năng kinh doanh, trình độ dân trí, tâm lý xã hội, tập quán,.do đó nhu cầu về sản phâm dịch vụ NHTM là khác nhau. Dé thích ứng với đặc điểm này NHTM đã phát triển nhiều sản phẩm dịch vụ khác nhau gồm cả sản phẩm truyền thống và hiện đại.
Đây là cơ hội để các NHTM phát triển thị trường đồng thời cũng là khó khăn trong việc xử lý và áp dụng công nghệ nhằm thoả mãn yêu cầu riêng biệt của từng nhóm khách hàng. Thứ hai: Tinh phụ thuộc Bất kỳ một hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ nào của NHTM cũng xuất phát từ nhu cầu của khách hàng, NHTM được uỷ nhiệm sử dụng tiền của khách hàng trong thời gian khách hàng cho phép mà không có quyền sở hữu số tiền đó. Do đó, việc sử triển khai các sản phẩm dịch vụ NHTM phải quan tâm trước hết đến nhu cầu khách hàng, phải xuất phát từ khách hàng. Thứ ba: Tính trừu tượng Tính vô hình là một trong những đặc trưng của sản phẩm dịch vụ NHTM.
Đặc điểm này làm cho khách hàng không thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm của NHTM nên khó đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ trước khi sử 8 dụng. Khách hàng chỉ đưa ra mục đích yêu câu và thoả thuận với ngân hàng. Vì thế, NHTM phải hướng dẫn khách hàng đến các yếu tố có thể quan sát được, cảm nhận được để khác hàng hiểu rõ và sử dụng đúng sản phẩm dịch vụ mình cần. Thứ tư: Tính thời điểm Sản phẩm dịch vụ NHTM nói chung không thể sản xuất hàng hoá hàng loạt và lưu kho như các sản phẩm thông thường khác.
Trong khi đó các tổ chức kinh tế và cá nhân thì đòi hỏi đáp ứng mang tính thời vụ, thời cơ, độ xa gan, trong nước hay ngoài nước, chính sách và thủ tục, văn hoá tín ngưỡng, niềm tin,. Vì vậy, NHTM phải có kiến thức kinh doanh, phán đoán thời cơ, tâm lý, xã hội để dự đoán thời điểm mà khách hàng cần sử dụng sản phẩm dịch vụ của mình, từ đó có kế hoạch đưa các sản phẩm ra phục vụ. Thứ năm: Tính điều kiện Quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ NHTM dựa trên những quy định chặt chẽ về điều kiện xử lý. Cơ sở để thực hiện là những quy định của pháp luật và thoả thuận giữa khách hàng với ngân hàng cũng như cơ chế kỹ thuật vận hành.
Do đó khi khách hàng có nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ NHTM phải thực hiện những nhu cau đó một cách nhanh chóng va kip thời. Thứ sáu: Tính cạnh tranh Nguyên liệu chính tạo ra sản phẩm của NHTM là “tiền”- loại nguyên liệu có tính xã hội hoá và tính nhạy cảm cao. Tính nhạy cảm thể hiện rõ trong trường hợp NHTM này đưa ra một loại sản phẩm được xã hội ưa chuộng thì ngay lập tức các NHTM khác cũng có thể tạo ra sản phẩm đó để cạnh tranh gay ra sự chuyển dịch khách hàng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác. Như vậy, tính cạnh tranh quyết liệt giữa các NHTM phát sinh từ sự dễ thay đổi của khách hàng trong quan hệ giao dịch với ngân hàng nhằm mục đích sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng với chi phí thấp nhất và bán nguyên liệu “tiền” với giá cao nhất.
Thứ bay: Môi trường kinh doanh và công nghệ ngân hàng NHTM nằm trong só loại hình doanh nghiệp được giám sát chặt chẽ nhất, thường xuyên đối mặt với những điều kiện kinh tế năng động và những điều chỉnh của pháp luật. Mặt khác môi trường kinh doanh của mỗi quốc gia đều ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các nghiệp vụ NHTM. Dưới sự tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học và kỹ thuật, công nghệ ngân hàng có những bước tiến nhảy vọt và có khuynh hướng quốc tế hoá, trở thành nguồn lực nội tại của mỗi ngân hàng về tư duy kinh doanh, tạo ra các sản phẩm thích ứng với thị trường. Hoạt động ngân hang vi vậy không thé tách rời việc hiện đại hoá công nghệ ngân hàng.
Các loại sản phẩm dịch vụ của NHTM trong nên kinh tế thị truong.