Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hoạt động Tài trợ thương mại tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động Tài trợ thương mại tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam Chi nhánh Bắc Ninh. Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động Tài trợ thương mại tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam chi nhánh Bắc Ninh 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm và sự khách quan của hoạt động tài trợ thƣơng mại Khái niệm tài trợ thƣơng mại: Tài trợ thƣơng mại có thể giải thích theo nhiều góc độ khác nhau. Trên góc độ tín dụng, ngƣời ta gọi TTTM là cho vay xuất nhập khẩu hay tín dụng trong ngoại thƣơng… Nhƣng ở góc độ sự hỗ trợ tài chính thì ngƣời ta lại gọi là tài trợ thƣơng mại, là tài trợ XNK, tài trợ ngoại thƣơng… Tuy nhiên, tài trợ thƣơng mại có ý nghĩa rộng hơn thế. TTTM là tập hợp các biện pháp, hình thức hỗ trợ về mặt tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp của NHTM hoặc các tổ chức tài chính cho các doanh nghiệp hoặc đơn vị kinh tế tham gia hoạt động xuất nhập khẩu trong một số hoặc toàn bộ các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Sự cần thiết khách quan của TTTM: Thứ nhất, thƣơng mại là một bộ phận của tái sản xuất xã hội, cụ thể hơn, nó là khâu cuối cùng của quy trình tái sản xuất.
Trong quá trình phát triển của phân công lao động xã hội thì thƣơng mại tách ra khỏi quy trình tái sản xuất để trở thành một ngành kinh doanh riêng biệt. Ngoài nguồn vốn tự có, thƣơng mại vẫn rất cần sự hỗ trợ tài chính từ các ngành sản xuất, tài chính và ngân hàng để tồn tại và phát triển, đặc biệt là đối với lĩnh vực kinh doanh thƣơng mại quốc tế. Nhƣ vậy, việc tài trợ cho hoạt động thƣơng mại nói chung và hoạt động thƣơng mại quốc tế nói riêng là một đòi hỏi tất yếu, khách quan. 7 Thứ hai, theo Luật thƣơng mại năm 2005 của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác”.
Theo đó, khi ngƣời mua lúc nào cũng muốn mua hàng hóa, dịch vụ giá rẻ nhƣng chất lƣợng phải tốt. Do vậy, những ngƣời làm dịch vụ thƣơng mại (với tƣ cách là trung gian giữa nhà sản xuất với ngƣời mua) một mặt yêu cầu nhà sản xuất cải tiến hàng hóa, hạ giá thành; mặt khác cũng phải nâng cao chất lƣợng chính khâu bán hàng, xúc tiến thƣơng mại của mình. Để làm đƣợc những điều này thì cả nhà sản xuất và những ngƣời thƣơng mại đều cần có nguồn lực tài chính đủ và kịp thời và nguồn vốn tự thân không phải lúc nào cũng đáp ứng đƣợc yêu cầu này. Do đó, tài trợ cho hoạt động kinh doanh thƣơng mại là tất yếu.
Thứ ba, thƣơng mại quốc tế chứa đựng nhiều khác biệt so với thƣơng mại nội địa. Cụ thể là: cơ hội buôn bán trong thƣơng mại quốc tế không bị bó hẹp trong phạm vi quốc gia, cơ hội thƣơng mại càng mở rộng bao nhiêu thì cạnh tranh để giành giật lấy thị trƣờng càng khốc liệt bấy nhiêu. Rủi ro trong thƣơng mại quốc tế có độ tiềm ẩn rất sâu và ảnh hƣởng mạnh hơn so với rủi ro trong thƣơng mại quốc gia. Sự khác biệt về văn hóa, thị hiếu, điều kiện sản xuất, môi trƣờng, khí hậu, chế độ chính trị…làm cho rủi ro càng tích tụ nhiều hơn.
Mặt khác, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia mà mỗi Nhà nƣớc đều có các chính sách, biện pháp điều chỉnh dòng tiền tệ và hàng hóa làm cho thị trƣờng thế giới biến dạng, không còn đúng bản chất vốn có của nó. Thực tế chứng minh rằng ngoài nguồn tài trợ cho chi phí phòng chống rủi ro nội sinh, đòi hỏi phải có những nguồn tài chính ngoại sinh từ các nguồn lực bên ngoài, đặc biệt là các tổ chức tín dụng. Thứ tư, sản phẩm đƣa vào lƣu thông là kết quả của quy trình sản xuất, 8 do vậy, muốn có sản phẩm chất lƣợng cao, giá thành hạ và hợp thị hiếu ngƣời tiêu dùng, nâng cao khả năng cạnh tranh thì cần phải đầu tƣ cho một, một số công đoạn hoặc toàn bộ quá trình tái sản xuất từ đầu tƣ, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ ra thị trƣờng ngay trong ngắn hạn. Khả năng tích lũy tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp luôn là giới hạn trên của nhu cầu đầu tƣ này của doanh nghiệp đó.
Chỉ có dựa vào tài trợ ngoại sinh thì giới hạn trên đó mới bị phá bỏ và trở thành động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Vai trò của hoạt động Tài trợ thƣơng mại tại Ngân hàng thƣơng mại Đối với doanh nghiệp: Trong thƣơng mại quốc tế, nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu đều phải thực hiện rất nhiều công việc. Với nhà xuất khẩu, họ phải tìm kiếm thị trƣờng, tiếp xúc khách hàng, kí kết hợp đồng, chuẩn bị sản xuất, thực hiện sản xuất, cung ứng sản phẩm, lắp ráp chạy thử, giao hàng, bảo hành,… Với nhà nhập khẩu, họ cần tìm nơi mua hàng, kí kết hợp đồng, nhận hàng, cung ứng, chuyển giao, giao nhận hàng hóa, tiêu thụ hàng hóa… Trong suốt cả quá trình trên họ đều cần vốn để có sự đảm bảo về tài chính cho sự hoạt động đó. Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng đủ khả năng tài chính để tài trợ cho mọi hoạt động của mình, bù đắp chi phí cho tất cả các chi phí phát sinh đặc biệt với các giao dịch trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thƣờng có giá trị hàng hóa giao dịch rất lớn.
TTTM ra đời giúp khách hàng thuận lợi trong thanh toán. Nhƣ đã giải thích ở trên, do phải thực hiện nhiều công việc khi nguồn tài chính nội tại doanh nghiệp có hạn, do đó, doanh nghiệp sẽ có khả năng không đủ tài chính để thanh toán ngay cho một hoặc một số hợp đồng mua bán và bên đối tác không chấp nhận cấp tín dụng thƣơng mại cho họ. Khi đó, TTTM sẽ giúp họ sử dụng những nguồn tài chính ngắn hạn đƣợc cung 9 cấp bởi NHTM để bù đắp tình hình thiếu vốn đột xuất, tăng vòng quay và khả năng sử dụng vốn, từ đó giúp sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thuận lợi hơn. Hoạt động TTTM còn giúp doanh nghiệp XNK nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh trong thƣơng mại quốc tế, đặc biệt với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong kinh doanh nói chung, nhất là thƣơng mại quốc tế nói riêng, uy tín là vô cùng quan trọng, cần thiết với cả bên mua và bên bán. Bên bán có uy tín sẽ đƣợc khách hàng tin tƣởng, có lợi thế trong cạnh tranh để cung cấp hàng hóa so với các đối thủ có uy tín thấp hơn. Bên mua dựa vào uy tín của các bên có thể cung cấp hàng hóa cho mình để xem xét lựa chọn nhà cung cấp cho mình. Thƣơng mại quốc tế là giữa các bên ở các nƣớc khác nhau, rủi ro tiềm ẩn lớn, giá trị giao dịch cao.
Bởi vậy, uy tín càng là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn nhà cung cấp của ngƣời mua. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại thiếu uy tín so với các doanh nghiệp lớn do quy mô và tiềm lực kinh tế nhỏ hơn; do đó vấp phải nhiều khó khăn khi đàm phán làm ăn với các đối tác nƣớc ngoài. Với sự cam kết bảo lãnh của ngân hàng, các doanh nghiệp dễ nhận đƣợc sự tin tƣởng từ bạn hàng hơn, nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp và giành ƣu thế cạnh tranh so với các đối thủ khác trong việc cạnh tranh giành hợp đồng thƣơng mại. TTTM cũng là cách thức hiệu quả giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro khi tham gia vào thƣơng mại quốc tế vốn rất nhiều rủi ro.
Khi nhận đƣợc sự TTTM, các rủi ro về chính trị, lãi suất, tỷ giá mà doanh nghiệp có thể gặp phải sẽ đƣợc gánh vác bởi ngân hàng cung cấp dịch vụ TTTM cho doanh nghiệp. Tuy doanh nghiệp vẫn phải bỏ chi phí cho việc chuyển rủi ro cho ngân hàng và phải đáp ứng những yêu cầu chặt chẽ từ ngân hàng, nhƣng phần thiệt hại nếu có rủi ro xảy ra sẽ nhỏ hơn rất nhiều so với trƣờng hợp không nhận đƣợc TTTM. 10 Đối với ngân hàng: Với thế mạnh là sự chuyên nghiệp trong hoạt động thanh toán, khả năng thu thập và tổng hợp thông tin cũng nhƣ sự nắm vững tình hình thị trƣờng, biến động giá cả mà các NHTM đang ngày càng phát triển hoạt động TTTM trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và đƣa hoạt động này trở thành một trong những hoạt động cơ bản của ngân hàng hiện đại, tạo khoản thu lớn từ nguồn phí dịch vụ, phí bảo lãnh rủi ro…do giá trị của các hợp động thƣơng mại quốc tế thƣờng khá cao. Phát triển TTTM cũng góp phần phát triển các dịch vụ khác trong ngân hàng nhƣ tín dụng, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, đồng thời làm tăng sự gắn kết giữa các dịch vụ này với nhau.
Thông qua đó, ngân hàng có thể thực hiện hiệu quả việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ để cung ứng cho khách hàng. TTTM còn nâng cao độ an toàn và hạn chế rủi ro cho chính ngân hàng do ngân hàng có thể kiểm soát đƣợc các nguồn thanh toán một cách tập trung bằng các tài khoản thanh toán mở tại chính ngân hàng, hạn chế sử dụng vốn sai mục đích của khách hàng. TTTM còn giúp ngân hàng tiếp cận với thị trƣờng tài chính-ngân hàng toàn cầu, giúp mở rộng mối quan hệ hợp tác với các ngân hàng nƣớc ngoài, nâng cao uy tín và hội nhập nhanh với thế giới, sẵn sàng tham gia vào các tiến trình tự do hóa thị trƣờng tài chính – ngân hàng do việc nắm đƣợc các chuẩn mực quốc tế, am hiểu các quy trình liên quan đến hoạt động thƣơng mại quốc tế. Với nền kinh tế nói chung: TTTM có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế quốc dân thông qua việc giúp cho hàng hóa XNK lƣu thông thuận lợi hơn, góp phần tăng tính năng động cho nền kinh tế, ổn định thị trƣờng.