CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Tổng quan hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM 1. Khái niệm Trong xu thế phát triển chung của thời đại, hầu hết các quốc gia đều thực hiện chiến lược mở cửa hội nhập để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trên cơ sở về lợi thế so sánh giữa các quốc gia, sự phân công lao động quốc tế được hình thành, tạo nên một hoạt động ngoại thương sôi nổi, từ đó thúc đẩy giao lưu, phát triển mối quan hệ hợp tác giữa các nước, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế.
Các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ vượt ra khỏi biên giới quốc gia đòi hỏi một cơ chế giải quyết các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh giữa hai chủ thể trong và ngoài lãnh thổ, lúc bấy giờ ngân hàng thương mại (NHTM) thể hiện vai trò là định chế tài chính trung gian, giúp cho hoạt động thanh toán tiền tệ quốc tế được diễn ra một cách thông suốt, thuận tiện và hiệu quả. Khái niệm về hoạt động thanh toán quốc tế (TTQT), Đinh Xuân Trình (2006) cho rằng “TTQT là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước”. Còn theo Trầm Thị Xuân Hương (2006), “thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau”. Từ hai khái niệm trên giúp chúng ta hình dung cơ bản về hoạt động TTQT, tuy nhiên để khái quát lại một cách đầy đủ, trọn vẹn về khái niệm, người viết tán đồng với quan điểm của Nguyễn Văn Tiến (2009) như sau: “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với các tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.” z 14 Từ khái niệm trên cho thấy đối tượng hay phạm vi của hoạt động TTQT gói gọn trong hai lĩnh vực: Kinh tế và phi kinh tế.
Bởi vậy, trong quy chế hoạt động của các NHTM, TTQT được phân chia tương ưng với hai lĩnh vực trên thành thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch. Hoạt động thanh toán mậu dịch bắt nguồn từ sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ thương mại giữa các quốc gia, trên cơ sở pháp lý là hợp đồng ngoại thương. Ngược lại, hoạt động thanh toán phi mậu dịch thực hiện trao đổi tiền tệ giữa các bên không tham gia vào dây chuyền cung ứng hàng hóa hay dịch vụ ngoại thương mà chỉ nhằm phục vụ cho các mục đích phi thương mại như chuyển tiền kiều hối, khám chữa bệnh, du học, từ thiện, trợ cấp… 1. Đặc điểm Ngoài những đặc điểm của hoạt động thanh toán thông thường qua NHTM, hoạt động TTQT còn có những đặc trưng cơ bản, phản ánh bản chất “quốc tế” như sau: Thứ nhất, chủ thể tham gia hoạt động TTQT thuộc các quốc gia khác nhau Khác với hoạt động thanh toán nội địa, các chủ thể tham gia hoạt động TTQT có trụ sở ở các nước khác nhau, do đó các chủ thể cũng chịu sự chi phối, điều chỉnh của khung pháp lý (luật pháp quốc gia) khác nhau.
Thứ hai, hoạt động TTQT chịu sự chi phối của luật pháp quốc tế Ngoài sự chi phối của luật pháp quốc gia, các chủ thể tham gia vào hoạt động ngoại thương còn chịu sự điều chỉnh của luật pháp quốc tế. Thông thường, hợp đồng ngoại thương sẽ có điều khoản quy định cụ thể về tòa án chịu trách nhiệm xử lý khi có tranh chấp phát sinh giữa các bên. Đồng thời, tùy thuộc vào phương thức TTQT được chọn lựa, các bên buộc phải tuân thủ theo các chuẩn mực, thông lệ quốc tế áp dụng cho phương thức thanh toán đó như: Các điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms), quy tắc thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (UCP 600), Quy tắc thống nhất về nhờ thu (URC 522). Thứ ba, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ với ít nhất một bên chủ thể z 15 Mỗi quốc gia đều sở hữu đồng tiền riêng, do vậy khi tham gia hoạt động ngoại thương, các bên phải thống nhất một loại tiền tệ dùng trong hoạt động thanh toán và quy định cụ thể tại hợp đồng.
Đồng tiền thanh toán này có thể là đồng tiền của một trong hai nước, hoặc một đồng tiền của bên thứ ba, tuy nhiên phải đảm bảo là loại ngoại tệ mạnh, có thể tự do chuyển đổi như USD, EUR, GBP, JPY, HKD, AUD. Thứ 4, hoạt động TTQT bao hàm nhiều rủi ro Với phạm vi giao dịch vượt biên giới quốc gia, hoạt động TTQT luôn phát sinh nhiều rủi ro, mỗi phương thức thanh toán được lựa chọn sẽ bao hàm những rủi ro khác nhau, xuất phát từ nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu. Ngoài ra, một số rủi ro khác có thể xảy đến làm ảnh hưởng đến hoạt động TTQT như rủi ro thanh đổi cơ chế chính sách (rủi ro chính trị), rủi ro phá sản và mất khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu, rủi ro đạo đức (lừa đảo trong kinh doanh), rủi ro biến động tỷ giá, rủi ro biến động thị trường (giá cả hàng hóa). Vai trò hoạt động thanh toán quốc tế Trong bối cảnh mở cửa, hội nhập nền kinh tế thế giới, hoạt động thanh toán quốc tế dường như trở thành vấn đề trọng yếu, là một trong những điều kiện tiên quyết giúp cho hoạt động giao lưu quốc tế được diễn ra thông suốt.
Ngoài vai trò cầu nối quan trọng trong lưu thông tiền tệ giữa các quốc gia, hoạt động TTQT còn thể hiện những vai trò quan trọng khác, đối với nền kinh tế nói chung và hệ thống các NHTM nói riêng, cụ thể: 1. Vai trò hoạt động TTQT đối với nền kinh tế Thúc đẩy phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại: Hoạt động TTQT diễn ra thông suốt sẽ giúp đẩy mạnh tốc độ lưu thông hàng hóa, dịch vụ, thúc đẩy quá trình tái sản xuất của các doanh nghiệp, do vậy, các doanh nghiệp, tổ chức trong nước mạnh dạng hơn trong việc mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài, tạo điều kiện cho hoạt động ngoại thương phát triển. Đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước: Hiện nay, hoạt động xuất khẩu đã góp phần quan trọng trong việc đem lại một nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước, bổ z 16 sung vào dự trữ ngoại hối quốc gia. Nếu không nhờ vai trò cầu nối của hoạt động thanh toán quốc tế, Việt Nam sẽ khó tham gia vào hoạt động ngoại thương, khó đẩy mạnh được lĩnh vực xuất khẩu để gia tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
Thúc đẩy tiến trình hội nhập của đất nước: Cùng với xu thế chung của thời đại, hầu hết các nước trong đó có Việt Nam đều mong muốn mở cửa quốc gia, tiến vào quá trình hội nhập toàn cầu. Ngoài sự phân công lao động quốc tế là nền tảng của hoạt động ngoại thương thì các quốc gia đang phát triển còn nhận chuyển giao công nghệ và dòng chảy vốn đầu tư từ các nước phát triển, để gia tăng năng suất, hiệu quả hoạt động kinh tế và rút ngắn khoảng cách trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Lúc bấy giờ, hoạt động TTQT càng khẳng định vai trò cầu nối quan trọng của mình, giúp cho những chiến lược đó được thực thi hiệu quả và nhanh chóng, góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập của đất nước, hoàn thành mục tiêu vĩ mô của quốc gia. Vai trò hoạt động TTQT đối với các NHTM Gia tăng doanh thu, lợi nhuận: Sự phát triển của hoạt động TTQT sẽ giúp ngân hàng thu được một nguồn phí không nhỏ, từ đó góp phần gia tăng doanh thu cho ngân hàng.
Đồng thời, với tính chất không tồn tại nhiều rủi ro như hoạt động tín dụng, các khoản phí này được xem như “thu ròng”, không yêu cầu trích lập dự phòng theo qui định, do đó, bảo toàn được lợi nhuận cho ngân hàng. Chuyển dịch cơ cấu thu nhập: Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều mong muốn chuyển dịch cơ cấu thu nhập theo hướng giảm thu nhập từ hoạt động tín dụng và gia tăng thu nhập các mảng dịch vụ khác, sự phát triển hoạt động TTQT sẽ giúp các ngân hàng thực hiện được mục tiêu này, thông qua sự gia tăng các khoản phí dịch vụ. Giảm thiểu rủi ro hoạt động: Tuy rằng hoạt động TTQT tiềm tàng những rủi ro đa dạng, tuy nhiên nếu có những giải pháp quản trị hiệu quả, hoạt động này hoàn toàn có thể kiểm soát được yếu tố rủi ro dễ dàng hơn so với hoạt động tín dụng (hoạt động chính của các NHTM hiện nay). z 17 Gia tăng nền khách hàng, nâng tầm vị thế ngân hàng: Hoạt động TTQT chủ yếu hướng đến những khách hàng có hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, nhờ phát triển hoạt động này mà ngân hàng có thể phát triển các khách hàng mới, gia tăng nền khách hàng hiện tại.
Ngoài ra, là nghiệp vụ mang tính hiện đại, không ngừng đổi mới, đòi hỏi chuyên môn cao và uy tín tầm thế giới, hoạt động TTQT giúp nâng tầm vị thế của ngân hàng, khẳng định chất lượng ngân hàng hiện đại. Bán chéo các sản phẩm ngân hàng: Từ hoạt động TTQT, các chuyên viên NHTM có thể thực hiện bán chéo một số sản phẩm hỗ trợ khác như: Mua bán ngoại tệ, bảo hiểm vận chuyển hàng hóa, tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh đối ứng. Mở rộng quy mô, mạng lưới hoạt động của ngân hàng: Việc đẩy mạnh hoạt động TTQT sẽ giúp các ngân hàng có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận, thiết lập quan hệ đại lý với các NHTM trên thế giới, từ đó mở rộng quy mô, mạng lưới hoạt động ngân hàng, nâng tầm uy tín hoạt động trên thị trường quốc tế. Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng: Hiện nay, sự cạnh tranh trong hoạt động cấp tín dụng, tiền gửi dường như đã trở nên bão hòa, khó có thể tạo nên lợi thế cạnh tranh đặc biệt cho các NHTM.