Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Vai trò của cây chè đối với đời sống con người Từ xưa đến nay, cây chè đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với người dân trồng chè nói riêng và tất cả mọi người trên thế giới nói chung. Trước hết, chè là một trong những loại thức uống quen thuộc đối với mọi người ở khắp các nơi trên thế giới. Đặc biệt là đối với người Á Đông chè được xem như là thức uống mang tính toàn cầu, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ - kỹ thuật đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh được lợi ích của cây chè.
Bên cạnh chức năng giải khát thông thường, chè có tác dụng sinh lý rõ rệt đối với sức khỏe của con người, được dùng để phòng trị và chữa nhiều loại bệnh khác nhau. Tác dụng chữa bệnh và chất dinh dưỡng của nước chè đã được các nhà khoa học xác định: Cafein và một số hợp chất ancaloit khác có trong chè là những chất có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường sự hoạt động các cơ trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc và giảm bớt mệt nhọc sau những ngày làm việc căng thẳng. Hỗn hợp tanin chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh đường ruột như tả lỵ, thương hàn. Nhiều thầy thuốc còn dùng nước chè xanh để chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày.
Dựa vào số liệu của Viện nghiên cứu y học Leningrat, khi điều trị các bệnh cao huyết áp và neprit mạch thì hiệu quả thu được có triển vọng rất tốt, nếu như người bệnh được dùng catechin chè theo liều lượng 150mg trong một ngày. Mgaloblisvili và các cộng tác viên đã xác định ảnh hưởng tích cực của nước chè xanh tới tình trạng chức năng của hệ thống tim mạch, sự cản các mao mạch, trao đổi muối - nước, chè còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin A, B1, B2 và nhiều nhất là vitamin C. Một giá trị đặc biệt của chè được phát hiện gần đây là tác dụng chống phóng xạ. Điều này đã được các nhà khoa học Nhật Bản thông báo qua việc chứng minh chè có tác dụng chống được chất Stronti (Sr) 90 là một đồng vị phóng xạ rất nguy hiểm.
Qua việc quan sát thống kê nhận thấy nhân dân ở một vùng ngoại thành Hirôsima có trồng nhiều chè, thường xuyên uống nước chè, vì vậy rất ít bị nhiễm n 5 phóng xạ hơn các vùng chung quanh không có chè. Các tiến sĩ Teidzi Ugai và Eisi Gaiasi (Nhật Bản) đã tiến hành các thí nghiệm trên chuột bạch cho thấy với 2% dung dịch tanin chè cho uống sẽ tách ra được từ cơ thể 90% chất đồng vị phóng xạ Sr - 90 [11]. Cây chè đã đi vào đời sống của con người một cách sâu sắc. Mọi người có thói quen uống trà để thể hiện nét văn hóa của vùng miền hay quốc gia nào đó, phong cách của mỗi người, góp phần tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi và thoải mái.
uống trà trở thành phong tục tập quán, một sở thích lâu đời của nhiều dân tộc trên thế giới. Vì thế, ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới, uống trà được coi như một nền văn hóa ẩm thực đậm đà bản sắc dân tộc. Bên cạnh giá trị về mặt tinh thần, cây chè còn có giá trị kinh tế to lớn. Chè vốn là một cây công nghiệp lâu năm, có đời sống kinh tế lâu dài, mau cho sản phẩm và có hiệu quả kinh tế cao.
Chè trồng một lần có thể cho thu hoạch trong 30 - 40 năm. Chính vì chè có tác dụng tốt cho sức khỏe của con người nên nó ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng, làm cho những người dân trồng, chế biến và kinh doanh chè có nguồn thu nhập đáng kể, giải quyết việc làm và góp phần nâng cao đời sống người dân. Như ở các vùng trồng chè của nước ta, cây chè đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế to lớn cho người dân, hiện có khoảng 6 triệu người dân có thu nhập từ trồng, chế biến và kinh doanh chè, nó đang được phát triển rộng rãi ra các vùng miền khác. Phát triển cây chè cần một lượng lao động lớn, do vậy trồng chè thu hút và điều hòa lao động [5].
Hiện nay, chè đã trở thành mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới mang lại nguồn thu nhập lớn. Ngoài ra, nhu cầu về chè của các vùng miền trên thế giới ngày càng cao. Vì vậy, phát triển sản xuất và tiêu thụ chè góp phần đáng kể cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân trồng chè, đặc biệt là đồng bào trung du và miền núi. Chè là cây trồng không tranh chấp về đất đai với các cây lương thực, có khả năng sử dụng nguồn tài nguyên phong phú của đất đồi núi vì thế trồng chè thâm canh, có tác dụng che phủ rộng, phủ xanh những vùng đất nghèo nàn, bị bỏ trống và khai phá, bảo vệ đất và góp phần tạo nên môi trường xanh đẹp.
Như vậy, cây chè có tiềm năng khai thác trên những vùng đất đai rộng lớn, nhất là ở các vùng miền núi. Việt Nam là một trong những nước có điều kiện sinh thái n 6 thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè, người dân có kinh nghiệm và nguồn lao dộng dồi dào. Do đó có tiềm năng sản xuất và kinh doanh chè rất lớn. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và kinh doanh chè Cũng như bất cứ một loại cây trồng nào, trong quá trình sản xuất và kinh doanh chè, tính từ lúc chè được trồng cho đến khi được bán ra thị trường và đến tay người tiêu dùng thì chè chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau.
Các yếu tố này có thể tác động riêng lẻ hoặc tổng hợp, cả tích cực và tiêu cực lên các hoạt động sản xuất, kinh doanh đó. Nhóm điều kiện sinh thái Chè là cây chịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện sinh thái, nguyên sản của cây chè là ở vùng khí hậu nhiệt đới. Nghiên cứu điều kiện sinh thái của cây chè là đề cập đến các điều kiện sống thích hợp nhất về các mặt như khí hậu, đất đai. của cây chè.
Nắm vững những yêu cầu sinh thái của cây chè thì sẽ giúp cho nó sinh trưởng và phát triển tốt. Sau đây ta xét một số điều kiện sinh thái chủ yếu: a) Đất đai và địa hình So với một số cây công nghiệp dài ngày khác thì chè là cây không yêu cầu khắt khe lắm về đất. Tuy nhiên để cây chè sinh trưởng tốt, nương chè có nhiệm kỳ kinh tế lâu dài, có khả năng cho năng suất cao và ổn định thì chè phải được trồng ở những nơi đất tốt. Những nghiên cứu, so sánh và phân tích đất ở các vùng chè khác nhau trên thế giới cho thấy đất trồng chè tốt phải đạt yêu cầu đất tốt, có phản ứng chua, nhiều mùn, thoát nước và có độ dốc thoải [6].
Từ những yêu cầu đó ta thấy ở nước ta có nhiều vùng có đất đai thích hợp với cây chè, đặc biệt là vùng trung du miền núi phía Bắc. Độ chua là yếu tố quan trọng quyết định đến đời sống của cây chè. Độ chua thích hợp nhất cho cây chè là 4,5 - 5,5. Thực tế ở nước ta chè được trồng ở những vùng như Tây Nguyên, trung du miền núi phía Bắc.đa số đất có phản ứng hơi chua đến chua.
Chè sinh trưởng tốt ở đất có tầng dày > lm. Giới hạn cuối cùng về tầng dày đất trồng chè là 0,5m. Về thành phần cơ giới, chè ưa các loại đất từ pha cát đến thịt nặng. Chè được trồng trên những loại đất có thành phần cơ giới nhẹ sản phẩm chè xanh sẽ có màu nước đẹp, hương thơm tự nhiên, vị đượm.
Thực tiễn ở Thái Nguyên cho thấy có 6 loại đất có khả năng sản xuất chè trong đó chè được trồng trên 2 loại đất là đất n 7 vàng nhạt trên đá cát và đất vàng nâu trên phù sa cổ có thành phần cơ giới nhẹ. Các vùng chè nổi tiếng như Tân Cương, Đại Từ.là những vùng mà đất trồng chè có thành phần cơ giới nhẹ. Chè là cây cần nước tuy nhiên không có khả năng chịu úng, chỉ nên trồng chè ở những nơi có mực nước ngầm ở dưới độ sâu l m. b) Điều kiện khí hậu Các điều kiện khí hậu có ảnh hưởng lớn nhất đến sự sinh trưởng và phát triển của cây chè là nhiệt độ, ẩm độ.
Theo số liệu các nước sản xuất chè trên thế giới thì cây chè phát triển tốt ở nhiệt độ từ 15° -25°c, lượng mưa bình quân là từ 1500 - 2000mm, độ ẩm không khí là 80 - 85%, độ ẩm đất là từ 70 - 80%. Tuy nhiên với tính thích nghi rộng và sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay có nhiều giống chè chịu rét, chịu hạn được tạo ra. Cây chè có thể sinh trưởng và phát triển ở những nơi có điều kiện khí hậu khắc nhiệt hơn những điều kiện tối ưu trên. Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng và mùa xuân thì phát triển trở lại.
Ánh sáng cũng là nhân tố ảnh hưởng tới quá trình sản xuất chè, yêu cầu của cây chè với ánh sáng có sự khác nhau giữa các tuổi chè, giống chè. Chè con cần ít ánh sáng hơn chè lớn, các giống chè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn các giống chè lá nhỏ. Cũng như các thực vật khác, không khí rất cần đối với đời sống của cây chè, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về hàm lượng C02 cũng có ảnh hưởng tới sự quang hợp của cây chè. Sự lưu thông không khí, gió nhẹ và có mưa rất có lợi cho sự sinh trưởng của cây chè [6].
Nhóm nhân tố về kinh tế kỹ thuật a) Giống chè Giống chè là nhân tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất chè. Vì chè là cây công nghiệp lâu năm nên việc chọn giống tốt, thích hợp với các điều kiện sinh thái là công việc rất quan trọng. Giống chè tốt là giống cho năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng thích nghi cao với điều kiện ngoại cảnh, chống chịu tốt với sâu bệnh, chịu hạn và rét tốt. Vì vậy công tác chọn giống chè phải được tiến hành cẩn thận, kiên trì và lâu dài.
Với sự phát triển ngày càng cao của khoa học và công nghệ nên có nhiều giống chè mới được tạo ra. Hiện nay, ở Việt Nam đã chọn tạo ra nhiều giống chè có tốt như PHI, TRI 777, LDPl.