phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan NHTM và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. - Chƣơng 2: Thực trạng phát triển sản phẩm dịch vụ tại Nam A Bank. - Chƣơng 3: Giải pháp phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng tại Nam A Bank. 123doc 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NHTM VÀ CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1.1 Tổng quan NHTM 1.1 Khái niệm NHTM NHTM đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa.
Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngƣợc lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất của nó – kinh tế thị trƣờng – thì NHTM cũng ngày càng hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu đƣợc. Theo Khoản 3 - Điều 4 Luật các TCTD (luật số 47/2010/QH12): “NHTM là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Nhƣ vậy, có thể nói NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trƣờng.
Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền nhàn rỗi sẽ đƣợc huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế. Từ đó, có thể nói bản chất của NHTM thể hiện qua các điểm sau: - NHTM là một tổ chức kinh tế; - NHTM hoạt động mang tính chất kinh doanh; - NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Cá nhân Nhận tiền Cho vay - Công ty, xí Công ty gửi NHTM nghiệp Xí nghiệp Cung cấp - Hộ gia đình, dịch vụ cá nhân Tổ chức Tiết kiệm ngân hàng - Các tổ chức 123doc 5 1.2 Chức năng của NHTM 1.1 Trung gian tín dụng NHTM đóng vai trò là ngƣời trung gian đứng ra tập trung, huy động tối đa các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn tín dụng, đáp ứng các nhu cầu về vốn cho nền kinh tế. Khi thực hiện chức năng, NHTM đã điều hòa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu.
Từ đó kích thích quá trình luân chuyển vốn của toàn xã hội và thúc đẩy sự phát triển của quá trình tái sản xuất. Chức năng này vừa cho thấy bản chất, vừa cho thấy nhiệm vụ chính yếu của NHTM.2 Trung gian thanh toán NHTM đứng ra làm trung gian thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa các khách hàng để hoàn tất các quan hệ kinh tế thƣơng mại giữa họ với nhau một cách thuận tiện, nhanh chóng và an toàn. Ngân hàng có thể thực hiện các dịch vụ thanh toán theo yêu cầu khách hàng thông qua tài khoản của họ bằng các phƣơng tiện thanh toán nhƣ: ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, séc, thẻ thanh toán,… Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền công nghệ hiện đại, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật,… đã tạo điều kiện cho các NHTM thực hiện thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử trực tuyến,… với nhau một cách nhanh chóng và chính xác hơn, tiết kiệm chi phí lƣu thông cho xã hội, thúc đẩy luân chuyển vốn và quá trình lƣu thông hàng hóa ngày càng phát triển.3 Cung ứng dịch vụ ngân hàng Là việc NHTM cung cấp dịch vụ cho khách hàng để hƣởng hoa hồng và dịch vụ phí. Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, các dịch vụ cung ứng cho nền kinh tế cũng ngày càng đa dạng và chất lƣợng phục vụ khách hàng cũng từng bƣớc đƣợc nâng cao.
Tuy nhiên, việc thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ của NHTM không chỉ thuần túy để hƣởng hoa hồng và dịch vụ phí làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng, mà còn hỗ trợ thực hiện chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, cũng nhƣ các mặt hoạt động kinh doanh của ngân hàng.3 Các loại hình NHTM 1.1 Dựa vào hình thức sở hữu - NHTM quốc doanh: đƣợc thành lập bằng 100% vốn ngân sách Nhà nƣớc. - NHTMCP: đƣợc thành lập dƣới hình thức công ty cổ phần. Trong đó, một cá nhân hay pháp nhân chỉ đƣợc sở hữu một số cổ phần nhất định theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc. - NHTM liên doanh: đƣợc thành lập bằng vốn liên doanh giữa một bên là Ngân hàng Việt Nam và một bên là Ngân hàng nƣớc ngoài có trụ sở tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
- Chi nhánh NHTM nước ngoài: đƣợc thành lập theo pháp luật nƣớc ngoài, đƣợc phép mở chi nhánh tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.2 Dựa vào chiến lƣợc kinh doanh - Ngân hàng bán buôn: giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tƣợng khách hàng công ty chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân. - Ngân hàng bán lẻ: giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tƣợng khách hàng cá nhân. - Ngân hàng vừa buôn bán vừa bán lẻ: giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả khách hàng công ty lẫn cá nhân. Hầu hết các NHTM Việt Nam đều thuộc loại hình ngân hàng này.4 Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM 1.1 Nghiệp vụ nợ Là nghiệp vụ mà kết quả là tạo lập nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng để đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế.
Trong tổng nguồn vốn hoạt động, ngoài nguồn vốn tự có các NHTM chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động để hoạt động kinh doanh. Trong hoạt động này, NHTM đƣợc sử dụng các công cụ và biện pháp mà pháp luật cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng cho vay đối với nền kinh tế. Hoạt động huy động vốn của NHTM bao gồm: nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá; vay vốn; huy động vốn khác.2 Nghiệp vụ có Là nghiệp vụ sử dụng các nguồn vốn của ngân hàng, trong đó nghiệp vụ cho vay và đầu tƣ là quan trọng nhất quyết định khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM. Đây là các nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản có của ngân hàng, bao gồm: - Thiết lập dự trữ: là các khoản mà NHTM phải duy trì theo một tỷ lệ bắt buộc do Ngân hàng Trung Ƣơng ấn định, nhằm đảm bảo đáp ứng các nhu cầu thanh toán của khách hàng một cách kịp thời và đảm bảo quyền lợi cho khách hàng khi ngân hàng gặp rủi ro.
- Cấp tín dụng: nguồn vốn còn lại sau khi dự trữ NHTM có thể sử dụng để cấp tín dụng cho tổ chức và cá nhân dƣới các hình thức cho vay, chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính, bao thanh toán và các hình thức khác theo quy định. - Đầu tư: NHTM dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tƣ dƣới các hình thức nhƣ: hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các Công ty, xí nghiệp; mua trái phiếu Chính Phủ, chính quyền địa phƣơng, trái phiếu công ty… - Nghiệp vụ có khác: chủ yếu là các nghiệp vụ tạo nên tài sản lƣu động - cơ sở vật chất để tiến hành hoạt động ngân hàng.3 Nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng Là nghiệp vụ mà NHTM thực hiện theo sự ủy nhiệm của khách hàng để hƣởng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí bao gồm: - Các dịch vụ thanh toán, thu chi hộ cho khách hàng; - Nhận bảo quản các tài sản quý giá, các giấy tờ, chứng từ quan trọng; - Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo ủy nhiệm của khách hàng; - Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý; - Tƣ vấn tài chính, giúp công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu… 123doc 8 1.2 Sản phẩm dịch vụ ngân hàng 1.1 Khái niệm sản phẩm dịch vụ ngân hàng Xét về góc độ thoả mãn nhu cầu khách hàng có thể hiểu: “sản phẩm dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trƣờng tài chính”. Tuy nhiên, hiện có 2 quan niệm về “dịch vụ ngân hàng”: - Quan niệm theo nghĩa rộng, lĩnh vực dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đối với khách hàng (nhƣng không bao gồm hoạt động tự làm cho mình của các TCTD). Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và của Hiệp định thƣơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ, cũng nhƣ của nhiều nƣớc phát triển trên thế giới.
- Quan niệm theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống của định chế tài chính trung gian (huy động vốn và cho vay). Quan niệm này chỉ nên dùng khi xem xét hoạt động của một ngân hàng, cụ thể để xem các dịch vụ mới phát triển thế nào, cơ cấu ra sao trong hoạt động của mình. Khi nói lĩnh vực dịch vụ ngân hàng đối với nền kinh tế, các nƣớc đều quan niệm dịch vụ ngân hàng theo nghĩa rộng. Theo WTO, một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, đƣợc một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp.
Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm). Nhƣ vậy dịch vụ ngân hàng còn đƣợc hiểu là một bộ phận cấu thành nên dịch vụ tài chính. Thực tiễn cho thấy, khái niệm về dịch vụ ngân hàng theo nghĩa rộng phù hợp với thông lệ quốc tế và đang trở nên phổ biến trên các diễn đàn, trong giới nghiên cứu và cơ quan lập chính sách. Do đó, một khi Việt Nam đã cùng tham gia sân chơi với các nền kinh tế lớn thì việc xem xét khái niệm dịch vụ tài chính cũng nhƣ khái niệm dịch vụ ngân hàng theo quan niệm chung của các nƣớc là tất yếu.2 Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng của NHTM Nhu cầu xã hội ngày càng cao, sản phẩm dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng vì vậy rất khó để thống kê toàn bộ các sản phẩm dịch vụ ngân hàng.