Chương 1: Cơ sở lý luận về quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam Chương 2: Thực trạng về quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND LÀO và CHXHCN VIỆT NAM trong thời gian qua. Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lcào và CHXHCN VIỆT NAM trong thời gian tới. 3 Chương / cơ sở LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÃNG HOÁ GIỮA CHDCND LÀO VÀ CHXHCN VIỆT NAM 1. Cơ Sỏ LÝ THUYẾT vấ THƯƠNG MẠI QUốC tẽ' 1.1 Khới niệm, đặc điểm và vaỉ trò của thương mại hàng hoá quốc tế.
Khái niệm: Hoạt động thương mại quốc tế là hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức và cá nhân có trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau. Hoạt động thương mại hàng hoá quốc tế là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá giữa các tổ chức và cá nhân có trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau. Như vậy, thương mại hàng hoá quốc tế là một bộ phận của thương mại quốc tế, trong đó đối tượng mua bán chỉ là hàng hoá, không bao gồm dịch vụ. Đặc điểm: Hoạt động thương mại hàng hoá quốc tế có tính quốc tế của nó và được thể hiện: + Bên mua và bên bán là những người có trụ sở thương mại đặt ở các quốc gia khác nhau.
+ Đồng tiền thanh toán có thể là đồng tiền nước người mua, người bán, nhưng thường là các ngoại tệ mạnh. + Hàng hóa đối tượng của giao dịch được di chuyển ra khỏi biên giới của mỗi nước. Vai trỏ của hoạt động thương m ọi hàng hoá quốc tế. Xuất khẩu đã được thừa nhận là hoạt động cơ bản nhất của hoạt động thương mại hàng hoá quốc tế, là phương tiện thúc đẩy kinh tế phát triển.
Việc mở rộng xuất khẩu để tăng thu nhập ngoại tệ và cho nhu cầu nhập khẩu cũng như tạo cơ sở cho việc phát triển cơ sở hạ tầng là mục tiêu quan trọng nhất của hoạt động thương mại quốc tế. 4 - Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, để công nghiệp hoá đất nước trong một thời gian ngăn đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn để nhập khẩu thiết bị máy móc, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như đầu lư nước ngoài, vay nợ viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ, thu từ vốn góp các hộ gia đình, xuất khẩu sức lao động. các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ.
tuy quan trọng như rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau này. Nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất nước là xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu. - Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển: Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ.
Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Môt là xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa. Trong nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển, sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ chủ động chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu vấn sẽ nhỏ bé và tăng trưởng chậm.
Hai là coi thị trường và đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất, điều đó tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển sự tác động này thể hiện ở chỗ: + Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi, khi sản phẩm của ngành này được xuất khẩu thì cũng đồng nghĩa với việc ngành sản xuất nguyên liệu của ngành đó sẽ có điều kiện phát triển mạnh. 5 + Xuất khâu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho san xuất phát triên và ổn định. Nhờ có hoạt xuất khẩu mà thị trường tiêu thụ của các sản phẩm không còn bó hẹp trong phạm vi nhỏ bé của thị trường trong nước. Các sản phẩm hàng hoá của một nước đã có điều kiện xuất hiện ở nhiều thị trường khác nhau trên thế giới.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao khả năng sản xuất trong nước. + Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước. + Thông qua xuất khẩu hàng hoá các quốc gia trên thế giới sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thê giới về giá cả, chất lượng, và dịch vụ. + Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý sản xuất kinh doanh.
+ Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân. Tác động của xuất khẩu đến đời sống gồm có nhiều mặt. Trước hết sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập khá. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày càng đa dạng phong phú thêm nhu cầu của nhân dân.
+ Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ thương mại quốc tế của các quốc gia. Xuất khẩu và các quan hệ thương mại quốc tế có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là một hoạt động thương mại quốc tế, có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động thương mại quốc tế khác tại điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, dịch vụ, mở rộng vận tải quốc tế.
mặt khác; chính các quan hệ thương mại quốc tế tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu. Cơ sở lý thuyết vể thương mgi hàng hoã quô'c tế. Lý thuyết lợi th ế tuyệt đôi. Theo Adam Smith cho rằng thương mại giữa hai quốc gia được dựa trên cơ sở lợi thê tuyệt đối.
Khi một quốc gia sản xuất hàng hoá có hiệu quả hơn so với quốc gia khác nhưng kém hiệu quả hơn trong sản xuốt hàng hoá thứ hai, hai quốc gia có thể thu được lợi ích bằng cách mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu hàng hoá họ có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩu hàng hoá họ không có lợi thế. Một quốc gia được hưởng lợi thế tuyệt đối với những hàng hoá mà nó có thể sản xuất hữu hiệu hơn và do đó với mức giá rẻ hơn các quốc gia khác có thể. Ví dụ: Vì các khí hậu điều kiện thuận lợi, Brazin có thuận lợi trong việc trồng cà phê nhưng không có thuận lợi trong việc trồng lúa mỳ ngược lại Canada có thuận lợi trong việc trồng lúa mỳ nhưng không có thuận lợi trong trồng cà phê, Brazin có lợi thế tuyệt đối so với Canada về trồng cà phê nhưng không có lợi thế về trồng lúa mỳ. Còn đối với Canada có lợi thế tuyệt đối so với Brazin về trồng lúa mỳ nhưng không có lợi thế về trồng cà phê.
Do vậy cả hai quốc gia có thể thu lợi được nếu mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá có lợi thế tuyệt đối của họ để trao đổi với quốc gia kia lấy hàng hoá không có lợi thế. Do đó kể cả cà phê và lúa mỳ đều được trồng nhiều hơn. Lý thuyết lợi th ế tương đổi. Học thuyết lợi thế tương đối đã chỉ ra thương mại giữa các quốc gia có thể đem lại lợi nhuận cho tất cả các bên tham ra chứ không phải chỉ với quốc gia sản xuất hàng hoá ở mức giá rẻ.
Có một số ý kiến cho rằng, nếu có sự khác nhau tương đối trong hiệu quả sản xuất hàng hoá giữa các quốc gia thì ngay cả nước nghèo cũng có thể thu được lợi thế tương đối. Học thuyết lợi thế tương đối khẳng định nếu một quốc gia chuyên môn hoá sản xuất các loại hàng hóa giữa quốc gia này với quốc gia khác sẽ đem lại lợi ích cho cả hai bên. Học thuyết lợi thế tương đối đã dẫn các quốc gia vào việc chuyên môn hoá sản xuất đại chúng, đôi khi nó còn có những bước tiến xa hơn. Năm 1817 David Ricardo nhà kinh tế học người Anh (gốc Do Thái) đã nghiên cứu và dựa 7 vào học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith để phát triển học thuyết lợi thế tương đối.
Ricardo lập luận rằng lợi ích thương mại vẫn xảy ra quốc gia chuyên về các sản phẩm mà nó có thể sản xuất có hiệu quả hơn các sản phẩm khác, bất kể nó có lợi thế tuyệt đối về những sản phẩm này, đầu tiên điều này xem ra không thích hợp, nhưng một phép suy luận đơn giản có thể làm rõ lập luận học thuyết này, hãy tưởng tượng rằng một kỹ sư giỏi nhất ở vùng nào đó cũng có thể trở thành một hộ lý giỏi nhất, liệu nó có kinh tế không nếu người kỹ sư luôn đảm đương các công việc hành chính văn phòng? Hoàn toàn không. Anh ta có thể kiếm được nhiều tiền hơn bằng cánh cống hiến năng lực của mình cho nghề kỹ sư. Cho dù có phải mượn một hộ lý kém hơn để coi việc văn phòng. Cũng như vậy một nước có lợi thế hơn nếu tập trung nguồn lực để sản xuất những sản phẩm có hiệu quả nhất và sau đó nó sẽ mua lại các sản phẩm mà nó đã từ bỏ không làm từ các nước mà khi sản xuất sẽ tốn ít tài nguyên thiên nhiên hay có năng lực hơn cũng như người kỹ sư, một nước sẽ tập trung nỗ lực của nó vào việc sản xuất những loại hàng hoá mà nó có khả năng cạnh tranh lớn hơn.
Lợi thế tương đối của một quốc gia bị ảnh hưởng bởi: - Năng suất của các nhân tố đấu vào (vốn, đất đai, lao động). - Chi phí của các nhân tố này theo tiền tệ địa phương. - Giá trị của tiền tệ này đo lường theo các tiền tệ khác (tỷ lệ ngoại hối).