Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng nghiệp vụ bảo lãnh tại Khối khách hàng doanh nghiệp (CMB) - Hội sở - Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng. Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Khối khách hàng doanh nghiệp (CMB) - Hội sở - Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng. 4 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG Trong nền kinh tế thị trƣờng, luôn t n tại những mối quan hệ xã hội khác nhau, các mối quan hệ này vô cùng phong phú đa dạng và ngày càng phức tạp. Trong quan hệ xã hội, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên đƣợc càng đƣợc quan tâm và chú trọng hơn. Chỉ cần một bên không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì chắc chắn sẽ ảnh hƣởng đến quyền lợi của đối tác đặc biệt là trong quan hệ kinh tế thị trƣờng. Trong khi đ quan hệ kinh tế chỉ diễn ra lành mạnh khi các bên thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
Vì vậy, các bên tham gia quan hệ kinh tế đều muốn có sự đảm bảo bằng uy tín hay tài sản của bên thứ ba về việc thực hiện nghĩa vụ của đối tác. Sự đảm bảo của bên thứ ba đ gọi là bảo lãnh. Để có thể đi tổng quát nhất về nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng, chúng ta sẽ tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của nghiệp vụ bảo lãnh, các khái niệm cơ bản về nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng. Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng Trong nền kinh tế hàng hóa hiện đại, hoạt động thƣơng mại phát triển theo hƣớng toàn cầu hóa mạnh mẽ.
Điều này bắt ngu n từ nhu cầu ngày càng cao của xã hội về các loại hàng hóa, dịch vụ nhằm phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Mặt khác, các quốc gia với mục tiêu phát huy những lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh của mình đã và đang thực hiện chính sách kinh tế mở thúc đẩy thƣơng mại quốc tế phát triển. Song hành với sự phát triển thƣơng mại quốc tế thì cũng tiềm ẩn những rủi ro cho các doanh nghiệp do những biến động về chính trị, kinh tế - xã hội trên toàn cầu. Khi thƣơng mại quốc tế càng ngày càng mở rộng thì rủi ro không cân xứng cho một doanh nghiệp là rất lớn nhƣ việc rủi ro về đạo đức do bạn hàng không đáp ứng các hợp đ ng đã k kết là khó tránh kh i.
Bên cạnh đ việc các doanh nghiệp có thể tìm hiểu đƣợc thông tin thì việc tranh thủ cơ hội kinh doanh và chi phí b ra đã gây cản trở cho họ thực hiện, gây ảnh hƣởng đến hoạt động thƣơng mại, 5 giảm hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Để khắc phục điều này đòi h i phải có sự đảm bảo cho các giao dịch diễn ra an toàn, tạo độ tin cậy giữa các đối tác kinh tế. Trong đời sống kinh tế xã hội, từ rất lâu đã xuất hiện các chế định đảm bảo và xét tùy theo tính chất của các quan hệ xã hội mà có các hình thức bảo đảm: bảo chứng đối nhân, bảo chứng đối vật. Bảo chứng đối nhân đƣợc áp dụng chủ yếu trong các quan hệ phi tài sản trong các lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, chế tài hành chính và quan hệ phi tài sản trong dân sự… Ví dụ nhƣ bảo lãnh trong pháp lệnh tố tụng hình sự là biện pháp ngăn chặn bị can, bị cáo trốn tránh việc điều tra xét xử.
Ngƣời bảo lãnh có thể là công dân hoặc tổ chức c năng lực pháp l và năng lực hành vi. Ngƣời bảo lãnh phải chịu trách nhiệm về việc bị can, bị cáo có những hành vi trốn tránh pháp luật gây kh khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử thi hành án… trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc bảo lãnh không ngăn ngừa đƣợc hành động trên thì có thể xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc phạt tiền. Bảo chứng đối vật đƣợc áp dụng chủ yếu trong quan hệ hợp đ ng kinh tế và dân sự có yếu tố tài sản đ chính là bảo lãnh. Bảo lãnh đƣợc thực hiện bởi một hợp đ ng trong d ngƣời bảo lãnh phải chịu trách nhiệm vật chất trƣớc chủ nợ của ngƣời đƣợc bảo lãnh về việc ngƣời đƣợc bảo lãnh thực hiện toàn bộ hay một phần nghĩa vụ của mình.
Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng là một dạng nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, ra đời đầu tiên ở Mỹ vào những năm 60 dƣới hình thức Bảo lãnh thƣ hoặc Tín dụng thƣ dự phòng và sau đ vào đầu những năm 70 bảo lãnh đƣợc quốc tế hoá nhƣ là giải pháp hữu hiệu nhất đảm bảo thực thi nghĩa vụ đặc biệt là nghĩa vụ tài chính trong các giao dịch thƣơng mại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Vào thời gian này, các quốc gia thịnh vƣợng vì lợi ích từ sản xuất dầu h a tại Trung Đông liên tục ký kết các hợp đ ng kinh tế lớn với các nƣớc Phƣơng Tây để thực hiện các dự án cải tạo cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, quốc phòng. Giá trị lớn của các hợp đ ng kinh tế và thế mạnh tài chính của các quốc gia Trung Đông đã cho phép họ có một cái bảo đảm chắc chắn về phía đối tác khi tham gia vào các thƣơng vụ giao dịch. 6 Những bảo lãnh độc lập do Ngân hàng của các nƣớc phƣơng Tây phát hành đã thực sự đáp ứng đƣợc yêu cầu về sự thuận lợi và an toàn cho các quốc gia nhập khẩu.
Với khả năng ứng dụng rộng rãi trong các giao dịch, vị trí của bảo lãnh ngân hàng ngày càng đƣợc củng cố vững chắc hơn. Không chỉ giao dịch quốc tế đƣợc bảo lãnh bằng bảo lãnh ngân hàng mà cả giao dịch trong nƣớc, khiến cho doanh số bảo lãnh tăng lên đáng kể ở hầu hết các quốc gia. Tại Việt Nam, bảo lãnh ngân hàng đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc chính thức đƣa vào áp dụng từ năm 1994. Ngay lập tức nghiệp vụ bảo lãnh đã g p phần quan trọng vào việc hỗ trợ sản xuất kinh doanh và thúc đẩy thƣơng mại phát triển đặc biệt là trong các giao dịch có yếu tố nƣớc ngoài tham gia.
Khái niệm và đặc điểm của nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng 1. Khái niệm của nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng Hiện nay, thuật ngữ bảo lãnh ngân hàng (Bank Guarantee) chƣa đƣợc định nghĩa một cách thống nhất trong luật pháp quốc tế cũng nhƣ thông lệ đƣơc sử dụng phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, ta có thể hiểu khái niệm bảo lãnh Ngân hàng nhƣ sau: Bảo lãnh Ngân hàng là một biện pháp bảo đảm mang tính dự phòng theo đ định chế tài chính phát hành (The Guarantee) cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên nhận bảo lãnh (The Beneficiary) thay cho khách hàng (The Principal) khi khách hàng vi phạm cam kết. Xét theo học thuật, bảo lãnh ngân hàng là một hình thức tín dụng chữ ký, là hoạt động không dùng tới vốn ngân hàng.
Trong thƣơng mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng là hình thức tài trợ ngoại thƣơng nhằm chống đỡ những tổn thất của ngƣời thụ hƣởng bảo lãnh cho sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác liên quan. Tại Việt Nam, theo quyết định số 26 2006 QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, khái niệm bảo lãnh ngân hàng đƣợc xác định nhƣ sau: “Bảo lãnh Ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD (Bên bảo lãnh) với bên có quyền (Bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (Bên đƣợc bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã nhận trả ngay”. 7 Trong giới hạn mục tiêu nghiên cứu, tôi sẽ đi sâu phân tích các vấn đề liên quan đến bảo lãnh ngân hàng do NHTM phát hành.
Ngân hàng Thƣơng mại (NHTM) là loại hình TCTD đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận và góp phần thực hiện các mục tiêu khác của nhà nƣớc. Các bên tham gia trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng: Bên bảo lãnh: NHTM phát hành cam kết bảo lãnh. Đ thƣờng là NHTM có khả năng tài chính c chức năng phát hàng cam kết và đƣợc ngƣời thụ hƣởng chấp nhận. Có thể là một NHTM phục vụ bên đƣợc bảo lãnh hoặc nhiều NHTM tham gia.
Bên đƣợc bảo lãnh hay bên xin bảo lãnh: là khách hàng đƣợc ngân hàng bảo lãnh. Bên đƣợc bảo lãnh có thể là tổ chức, cá nhận trong và ngoài nƣớc c đủ điều kiện để đƣợc ngân hàng bảo lãnh. Bên nhận bảo lãnh hay bên thụ hƣởng: tổ chức, cá nhận trong và ngoài nƣớc có quyền thụ hƣởng bảo lãnh của NHTM. Ngoài ra, có thể còn có các bên liên quan khác: Bên bảo lãnh đối ứng, bên xác nhận bảo lãnh, bên bảo đảm nghia vụ của bên đƣợc bảo lãnh … 1.
Đặc điểm của nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng. Bảo lãnh ngân hàng mang những đặc điểm chung của bảo lãnh đã nêu trên và đƣợc cụ thể hóa trong hoạt động của ngân hàng ở những đặc điểm sau: Bảo lãnh là một cam kết mang tính chất bảo đảm gián tiếp: Ngân hàng bảo lãnh không phải ngay lập tức dùng vốn của mình để thực hiện nghĩa vụ mà ngƣời có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ chính là ngƣời đƣợc bảo lãnh. Chỉ khi khách hàng không thực hiện đƣợc nghĩa vụ thì ngƣời bảo lãnh mới phải thực hiện thay. Cam kết bảo lãnh ngân hàng phải được lập bằng văn bản: Văn bản bảo lãnh có thể là hợp đ ng cấp bảo lãnh thƣ điện, Telex hoặc ký hậu trên giấy tờ có giá nhƣ hối phiếu, lệnh phiếu, giấy nhận nợ (trong trƣờng hợp các giấy tờ c giá quy định phải có sự bảo lãnh của ngân hàng); nội dung văn bản thƣ bảo lãnh phải thể hiện đƣợc sự cam kết của ngân hàng đối với bên nhận bảo lãnh.
8 Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh số tiền trả thay: Đặc trƣng này phản ánh một quan hệ ràng buộc giữa ba bên là bên bảo lãnh, bên đƣợc bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.