CHƯƠNG I: NHỮNG VẪN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về bảo lãnh ngân hàng 1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng và các bên tham gia 1. Khái niệm Dưới góc độ kinh tế học, bảo lãnh ngân hàng thường được quan niệm như nghiệp vụ cấp tín dụng, bởi lẽ thông qua nghiệp vụ bảo lãnh, tổ chức tín dụng có thể giúp khách hàng thỏa mãn nhu cầu về vốn trong kinh doanh hoặc tiêu dùng.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm bảo lãnh ngân hàng được quy định thông qua các văn bản pháp luật như: Theo Điều 361, Luật Dân sự Việt Nam 2005: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây được gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”. Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam 2010 quy định: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiệnhoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận”. Theo thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 quy định về bảo lãnh ngân hàng: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh”.
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, song về bản chất, bảo lãnh ngân hàng được hiểu là một loại hình tín dụng của ngân hàng, sử dụng uy tín và tài chính của ngân hàng để bảo đảm cho một hoạt động nào đó của khách hàng trong trường hợp 3 khách hàng chưa nhận được sự tin tưởng từ phía đối tác. Việc bảo lãnh của ngân hàng cho phép đối tác của khách hàng có được một chứng từ đảm bảo thanh toán và khách hàng được ngân hàng bảo lãnh phải trả phí cho ngân hàng theo những cam kết đã được các bên thỏa thuận từ trước. Các bên tham gia trong bảo lãnh ngân hàng: Trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng có ít nhất ba chủ thể tham gia sau: Bên bảo lãnh – The Guarantor: Là bên phát hành thư bảo lãnh (ngân hàng) theo yêu cầu của khách hàng. Bên bảo lãnh thường là NHTM có uy tín, có khả năng tài chính, có chức năng phát hành cam kết bảo lãnh và được bên thụ hưởng chấp nhận.
Có thể có một hoặc nhiều NHTM tham gia phục vụ bên được bảo lãnh. Ngân hàng bảo lãnh có khi chỉ là ngân hàng phục vụ bên được bảo lãnh (trong trường hợp phát hành bảo lãnh trực tiếp), cũng có khi là hai ngân hàng, trong đó một ngân hàng phục vụ bên được bảo lãnh, một ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng (trong trường hợp phát hành bảo lãnh gián tiếp). Bên được bảo lãnh – The Principal: Là bên đề nghị ngân hàng phát hành thư bảo lãnh, là khách hàng của ngân hàng. Bên được bảo lãnh là tổ chức (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức tín dụng ở nước ngoài), cá nhân có đủ điều kiện để được ngân hàng bảo lãnh.
Bên nhận bảo lãnh (hay còn được gọi là Bên thụ hưởng) – The Beneficiary: Là bên được ngân hàng bồi thường khi bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng. Đây là bên sẽ được đảm bảo quyền lợi khi những vi phạm hợp đồng xảy ra. Bên nhận bảo lãnh là tổ chức (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức tín dụng ở nước ngoài), cá nhân có quyền thụ hưởng bảo lãnh do bên bảo lãnh, bên xác nhận bảo lãnh phát hành. Ngoài ra còn có các bên liên quan khác như: Bên xác nhận bảo lãnh, Bên bảo lãnh đối ứng,.
Mối quan hệ giữa các bên chính trong bảo lãnh ngân hàng được thể hiện qua sơ đồ sau: 4 Sơ đồ 1. Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh Bên bảo lãnh (Guarantor) (2) (3) Bên được bảo lãnh (1) Bên thụ hưởng (Principal) (Guarantor) Trong đó: (1): Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng bảo lãnh: là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh. Mối quan hệ này được thể hiện bằng một hợp đồng gốc: hợp đồng mua bán, hợp đồng thi công, hồ sơ mời thầu, đơn dự thầu,… Trong mối quan hệ này, bên được bảo lãnh có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện cam kết với bên thụ hưởng bảo lãnh. (2): Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh: Bên được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phát hành thư bảo lãnh cho người thụ hưởng bảo lãnh.
Mối quan hệ này được được thể hiện thông qua Đơn yêu cầu phát hành thư bảo lãnh (Thỏa thuận cấp bảo lãnh). Đây là văn bản thỏa thuận giữa bên bảo lãnh với khách hàng và các bên liên quan khác (nếu có) về việc phát hành bảo lãnh cho khách hàng. Trong trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm các điều khoản được bảo lãnh và bên thụ hưởng đòi bên bảo lãnh thì bên được bảo lãnh có nghĩa vụ hoàn trả cho bên bảo lãnh số tiền mà bên bảo lãnh phải thanh toán cho bên thụ hưởng theo cam kết bảo lãnh. (3): Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên thụ hưởng bảo lãnh: Bên bảo lãnh có trách nhiệm thanh toán cho bên thụ hưởng khi bên được bảo lãnh vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết với bên thụ hưởng.
Mối quan hệ này được thể hiện thông qua Cam kết bảo lãnh. Cam kết bảo lãnh là văn bản do bên bảo lãnh phát hành theo một trong các hình thức: Thư bảo lãnh hoặc Hợp đồng bảo lãnh. Chức năng và vai trò của bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh không chỉ hỗ trợ cho các hợp đồng thương mại mà cả các giao dịch phi thương mại, tài chính cũng như phi tài chính, không chỉ là một hoạt động tạo nên sự phát triển của ngân hàng mà còn có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp nói 5 riêng và nền kinh tế nói chung. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng: a.
Chức năng là công cụ bảo đảm Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng. Chức năng này được thể hiện trước hết là việc bảo đảm sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh trong việc thực hiện các cam kết. Ngoài ra, bằng việc cam kết chi trả khi bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ, ngân hàng bảo lãnh tạo ra sự bảo đảm cho bên nhận bảo lãnh. Bởi lẽ các ngân hàng phát hành bảo lãnh thường là các trung gian tài chính có khả năng tài chính đảm bảo, có uy tín trong kinh doanh tiền tệ.
Với sự cam kết của ngân hàng đã tạo nên sự tin tưởng của bên nhận bảo lãnh, tạo điều kiện cho hợp đồng được ký kết thuận lợi, nhanh chóng. Chức năng là công cụ tài trợ Bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ tài trợ về mặt tài chính cho bên được bảo lãnh. Trong nhiều trường hợp, thông qua bảo lãnh ngân hàng, bên được bảo lãnh không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh chóng, được vay nợ hoặc được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, tiền nộp thuế,… Vì vậy không trực tiếp cấp vốn, nhưng với việc phát hành bảo lãnh, ngân hàng bảo lãnh đã đem lại những thuận lợi về mặt ngân quỹ như khi được vay vốn. Với ý nghĩa này, bảo lãnh ngân hàng được coi là một trong những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giảm bớt căng thẳng về nguồn vốn trong hoạt động của các doanh nghiệp.
Chức năng là công cụ đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ Chức năng này được thể hiện thông qua việc tạo áp lực đối với bên được bảo lãnh trong việc nỗ lực thực hiện các cam kết. Với việc phát hành bảo lãnh của ngân hàng bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh có được sự yên tâm, còn bên được bảo lãnh luôn bị hối thúc bởi trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ, bởi nếu vi phạm thì bên được bảo lãnh không chỉ mất quyền lợi từ các cam kết, mà còn phải chịu nghĩa vụ tài chính phát sinh từ bảo lãnh được phát hành theo yêu cầu của họ. Trong suốt thời hạn bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh luôn có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán bảo lãnh khi bên được bảo lãnh vi phạm các cam kết với mọi mức độ vi phạm và thiệt hại. Vì thế, bên được bảo lãnh luôn đứng trước áp lực của việc phải bổi hoàn bảo lãnh, từ đó đốc thúc 6 họ thực hiện đúng các cam kết đã đưa ra.
Ba chức năng trên của bảo lãnh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vì bảo lãnh có chức năng đôn đốc bên được bảo lãnh thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, làm tăng thêm sự đảm bảo cho bên nhận bảo lãnh. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng a. Đối với nền kinh tế: Bảo lãnh ngân hàng đóng vai trò là chất xúc tác thương mại, giúp cho việc thực hiện hợp đồng, vay vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, giao dịch hàng hóa nội địa và ngoại thương,… được tiến hành thuận lợi và nhanh chóng hơn. Hơn nữa, bảo lãnh ngân hàng còn đóng vai trò trong việc tăng thêm nguồn vốn cho các doanh nghiệp, thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Do nhu cầu về vốn luôn là nhu cầu cấp thiết, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, việc vay vốn nước ngoài trở nên phổ biến và đóng vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn nước ngoài, chưa tạo dựng được lòng tin với các bạn hàng trên thị trường quốc tế.