Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm về hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân 1. Khái niệm hộ Hộ đã có lâu đời cho đên nay nó vẫn tồn tại và phát triển.
Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội. Từ trước đến nay, có nhiều khái niệm về hộ: Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà, nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công” Theo Liên hợp quốc: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ” (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4]. Raul Ituna - trường Đại học Tổng hợp Lioobon khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số nươc Châu Á đã chứng minh: “Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân của họ và cộng đồng” (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4]. Cần chú ý rằng, trên đây chỉ là nêu những khía cạnh về khái niệm hộ tiêu biểu nhất, khía cạnh nay hay khía cạnh khác hoặc khái quát chung nhưng vẫn còn chỗ dựa đồng nhất.
5 Từ các khái niệm trên cho thấy hộ có thể được hiểu như sau: Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thông, tuy vậy cũng có cá biệt trường hợp thành viên của hộ không phải cùng huyết thống (Con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài,…) Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống bởi vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là là một đơn vị kinh tế (Ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại đôc lập với nhau,…). Hộ nông dân Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” [5]. Theo ông Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” [9]. Theo Lê Đình Thắng (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4]: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”.
Còn theo Nguyễn Sinh Cúc (2001)[1]: Trong phân tích điều tra nông thôn năm 2011 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”.Lênin (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4] cho rằng: “Cải tạo tiểu nông không phải là tước đoạt của họ mà phải tôn trọng sở hữu cá nhân của họ, khuyến khích họ liên kết với nhau một cách tự nguyện để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chính họ”. - Hayami và Kikuchi (trích theo Chu Cao Vũ, 2005)[10]: Nghiên cứu sự 6 thay đổi của kinh tế nông thôn Đông Nam Á và thấy rằng, áp lực dân số trên ruộng đất ngày càng tăng, lãi do đầu tư thêm lao động ngày càng giảm mặc dù có cải tiến kỹ thuật, nhưng giá ruộng đất (địa tô) ngày càng tăng. - Năm 1989, Lipton cho rằng trong khoa học xã hội về phát triển nông thôn hiện nay, phổ biến ba cách tiếp cận, đó là cách tiếp cận Macxit phân tích (Roemer - 1985), tiếp cận cổ điển mới (Krueger, 1974) và tiếp cận hàng hoá tập thể (Olson, 1982). Ba tiếp cận trên về mặt lý luận, trong thực tiễn đều thuộc về quan hệ giữa nhà nước và nông dân (trích theo Chu Cao Vũ, 2005)[10].
Mối quan hệ đó, thường theo các hướng là tăng thặng dư kinh tế của nông thôn; chuyển thặng dư từ ngành này sang ngành khác; rút thặng dư và thúc đẩy việc luân chuyển. Nhìn chung bất cứ một quá trình phát triển nào cũng phải tăng thặng dư, quá trình này cần sự tác động của Nhà nước. Nghiên cứu khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả và theo nhận thức cá nhân tôi cho rằng: Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập chủ yếu là nghề nông, ngoài ra họ có tham gia các hoạt động phi nông nghiệp như (dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp,…). Kinh tế hộ nông dân Chúng ta biết rằng: Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông - lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động, tiền vốn,.
của gia đình mình là chính. Theo Trần Văn Hà (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4] thì: “Kinh tế nông hộ là đơn vị khai thác kinh doanh nông nghiệp của những người cùng sống chung một mái nhà. Người chủ sản xuất là trưởng gia, là chủ hộ cùng những thân nhân sử dụng tổng hợp những yếu tố lao động, đất, vốn, phương tiện sản xuất tác động vào môi trường sinh thái để làm ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống vật chất của gia đình và cộng đồng xã hội”.Mác (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4] khẳng định kinh tế nông hộ là nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá khác với nền kinh tế tiểu nông tự cấp, tự túc. Ông đã phân biệt người chủ nông hộ với người tiểu nông; người chủ nông hộ bán 7 ra thị trường toàn bộ sản phẩm làm ra; người tiểu nông tiêu dùng toàn bộ sản phẩm làm ra và mua bán càng ít càng tốt.
Tại Điểm 1, mục II của Nghị quyết số: 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000: “Kinh tế nông hộ là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”. Kinh tế hộ nông dân có những đặc điểm cơ bản sau đây: - Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, hoạt động gia đình hay là lao động có sẵn mà không cần phải thuê ngoài, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống. - Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân. Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất.
Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ. - Kinh tế hộ nông dân chủ yếu sử dụng lao động gia đình, người nông dân là chủ thật sự của quá trình sản xuất, trực tiếp tác động vào sinh trưởng, phát triển của cây trồng vật nuôi, không qua khâu trung gian. Việc thuê mướn lao động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng nhu cầu khác của gia đình. Họ làm việc không kể giờ giấc, hiệu quả sử dụng lao động rất cao.
- Cấu trúc lao động của kinh tế hộ nông dân đa dạng, phức tạp. Trong một hộ có nhiều loại lao động vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý vừa có khả năng tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. - Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng đồng. Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường.
Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại. Phát triển và phát triển kinh tế Trong những thuật ngữ khoa học “phát triển” được biểu thị như tiến trình đưa xã hộ lên một trình độ cao hơn cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Quá trình phát 8 triển của xã hội bao gồm cả phát triển kinh tế văn hóa xã hội và chính trị. Như vậy có thể định nghĩa về phát triển “Phát triển là một quá trình thay đổi làm tăng cường mức sống của con người”.
Phát triển kinh tế là sự gia tăng về số lượng và sự thay đổi về chất lượng của đời sống kinh tế-xã hội. Phát triển kinh tế và sự tăng lên về cơ sở vật chất và sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao (Phạm Thị Lý, Nguyễn Thị Yến và cs, 2016 [7]. Như vậy, phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng kinh tế) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế-xã hội.
Nội dung của phát triển kinh tế bao gồm: - Tăng trưởng kinh kế. Muốn phát triển các mặt của đời sống kinh tế-xã hội trước hết xã hội phải cần có thêm của cải, tức là năng lực của nền sản xuất phải được mở rộng hay nền kinh tế phải tăng trưởng. - Cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi theo hướng tiến bộ. - Những tiến bộ kinh tế chủ yếu phải xuất phát từ động lực nội tại.
Nền kinh tế tăng trưởng, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi tiến bộ chủ yếu phải do các nguyên nhân bên trong, do các nguồn lực nội tại. - Chất lượng cuộc sống cư dân không ngừng được cải thiện và nâng cao.