CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vẫn đề cơ bản về thẻ 1. Sự hình thành và phát triển thẻ Theo bách khoa toàn thư Britannica, việc sử dụng thẻ tín dụng bắt nguồn từ Mỹ trong suốt những năm 1920, khi các hãng tư nhân (ví dụ như chuỗi các khách sạn và các công ty dầu lửa) bắt đầu phát hành thẻ cho khách hàng. Tuy nhiên, các tham chiếu đến thẻ tín dụng đã được thực hiện từ rất lâu ở Châu Âu (vào khoảng những năm 1890).
Thẻ tín dụng đầu tiên tham gia vào việc bán hàng trực tiếp giữa các thương gia cung cấp tín dụng và thẻ tín dụng với các khách hàng của thương gia đó. Năm 1938, các công ty bắt đầu chấp nhận thẻ của nhau. Ngày nay, thẻ tín dụng cho phép bạn mua hàng với vô số các bên thứ ba tham gia thanh toán thẻ. Thẻ ngân hàng đầu tiên được phát minh bởi John Biggins làm việc cho Ngân hàng quốc gia Flatbush ở Brooklyn, New York, Mỹ.
Năm 1946, Biggins phát minh ra chương trình “Charge-it” giữa các khách hàng của ngân hàng và các thương gia địa phương. Thương nhân có thể gửi các phiếu bán hàng tại ngân hàng và ngân hàng thu tiền thanh toán từ phía khách hàng và hoàn trả cho nhà kinh doanh. Với những lợi ích của hệ thống thanh toán bằng thẻ, ngày càng có nhiều tổ chức tín dụng tham gia thanh toán. Hệ thống thanh toán thẻ phát triển rộng rãi không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn trên phạm vi toàn thế giới.
Cho đến nay, có 5 loại thẻ quốc tế được ưa chuộng nhất là: Diners Club, Visa, MasterCard, AMEX, JCB. Thẻ Diners Club đầu tiên được phát hành năm 1950. Năm 1960, thẻ Diners Club là thẻ quốc tế đầu tiên có mặt tại Nhật Bản, chi nhánh được quản lý bởi CitiCop Năm 1990, Diners Club có 6,9 triệu người sử dụng trên toàn thế giới với doanh số khoảng 16 tỷ đôla Mỹ. 4 Thẻ Visa có tiền thân là thẻ BankAmericard do Bank of America phát hành vào năm 1958.
Năm 1970, liên minh ngân hàng tại Mỹ liên kết lại và thành lập National BankAmericard, Inc., một thành viên giám sát hoạt động của chương trình BankAmericard tại Mỹ. Vào năm 1977, National BankAmericard, Inc., thành lập Visa, một tên thương hiệu đơn giản, dễ nhớ, có thể phát âm gần như giống nhau trong tất cả các ngôn ngữ. Cái tên Visa nhận được sự đồng tình ở mức độ rộng cùng với tính linh động của nó. Ra đời trong thập kỷ phát triển thị trường và công nghệ, Visa trở thành thương hiệu thẻ thanh toán hàng đầu trên thế giới.
Việc thúc đẩy mở rộng thị trường mới và việc ra đời nhiều hình thức thanh toán khác của Visa đã tăng số lượng địa điểm giao dịch lên gần gấp đôi, từ 3 triệu địa điểm trong thập kỷ trước lên tới 5,9 triệu điểm. Năm 1966, một tập đoàn Mỹ có tên gọi Western States BankCard Association đã mở rộng quan hệ tới những tập đoàn tài chính khác và bắt đầu tung ra thị trường loại thẻ MasterCharge. Năm 1979, thẻ này được đổi tên thành MasterCard để chứng tỏ vị thế thống lĩnh thị trường và phát triển thêm những dịch vụ mới. MasterCard International là một công ty hàng đầu thế giới về hệ thống chi trả toàn cầu.
Từ một công ty nhỏ được hình thành năm 1966, MasterCard đã thực hiện thành công gần 6 tỉ giao dịch và đạt tổng doanh thu trên 675 tỉ đô la Mỹ. Thẻ tín dụng MasterCard hiện nay có thể sử dụng ở trên 14 triệu khu vực trên khắp thế giới trong khi thẻ ghi nợ Cirrus và Maestro chỉ sử dụng được ở 1,3 triệu khu vực và 325 nghìn máy ATM. Ngày nay, số lượng những giao dịch được thực hiện qua ATM trên toàn thế giới đã vượt qua số lượng của những vụ giao dịch bằng thẻ tín dụng và MasterCard/Cirrus ATM là hệ thống lớn nhất thế giới. Thẻ American Express (AMEX) ra đời năm 1958.
Năm 1963, hãng American Express (một công ty ở Mỹ)giới thiệu loại thẻ Green Charge Card đầu tiên tại Anh và nhanh chóng thu được thành công đáng kể. Năm 1996, American Express có bước phát triển vượt bậc bằng việc giới thiệu thẻ tín dụng đầu tiên ở Anh và 3 năm sau, hãng có cuộc ra mắt trên phạm vi toàn nước Mỹ hình thức thanh toán bằng chiếc thẻ thông minh Blue. Đến nay, American Express thực sự đã giành được vị trí 5 thương hiệu toàn cầu, và vẫn luôn khẳng định vị thế của mình bằng những kinh nghiệm trong lĩnh vực du lịch nước ngoài, cả đối với khách công vụ và khách du lịch. Sản phẩm và dịch vụ của hãng có mặt trên 200 quốc gia và công ty cũng có hơn 78.000 chi nhánh trên toàn thế giới.
American Express luôn tận tuỵ với việc duy trì thương hiệu của mình là nhà cung cấp du lịch và dịch vụ tài chính dẫn đầu thế giới. Thẻ JCB là thẻ xuất phát từ Nhật Bản vào năm 1961 bởi ngân hàng SanWa và trở thành thẻ quốc tế năm 1981. Mục tiêu chủ yếu của thẻ JCB là hướng vào thị trường du lịch và giải trí, đang là loại thẻ cạnh tranh với AMEX. Đến năm 1990, doanh thu thẻ JCB khoảng 16,5 tỷ USD với 17 triệu thẻ lưu hành.
Ngày nay, thẻ JCB được chấp nhận trên 400.000 điểm giao dịch, phạm vi thanh toán trên 190 quốc gia ngoài Nhật Bản. Thẻ ngân hàng ngày càng được đa dạng hóa và trở thành sản phẩm dịch vụ rất được ưa chuộng. Trong suốt những năm 80, lượng giao dịch thẻ tăng 20% hàng năm. Với những tiện ích mang lại, thẻ ngân hàng đã và đang trở thành một phương tiện thanh toán chủ yếu của mọi tầng lớp dân cư tại các nước phát triển.
Tại Việt Nam, ngày 19/10/1999, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 về quy chế phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng. Đây có thể coi là cột mốc đánh dấu sự ra đời chính thức về mặt pháp lý của thẻ ngân hàng tại Việt Nam. Thẻ ngân hàng và các chủ thể tham gia trong phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ 1. Khái niệm thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hóa dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp tại các điểm chấp nhận thẻ. Thẻ ngân hàng còn dùng để thực 6 hiện nhiều dịch vụ khác thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM. Phân loại thẻ ngân hàng Tùy theo tiêu chí phân loại, thẻ ngân hàng được chia thành các loại khác nhau. Thẻ ngân hàng thường được chia thành các loại như sau: Theo công nghệ sản xuất: Thẻ khắc chữ nổi: Đây là loại thẻ xuất hiện đầu tiên, thực hiện dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi.
trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Ngày nay, người ta không sử dụng loại thẻ này nữa do kỹ thuật làm thẻ này quá thô sơ, dễ bị lợi dụng làm giả, mà kết hợp với kỹ thuật mới như băng từ hay chíp thông minh. Thẻ băng từ: Thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với dải băng từ chứa thông tin liên quan đến chủ thẻ và thẻ được mã hóa ở mặt sau của thẻ. Hiện tại, đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi trên thế giới.Tuy nhiên, nó cũng dần bộc lộ điểm yếu là tính bảo mật không cao, dễ bị kẻ gian lợi dụng đọc thông tin và làm thẻ giả hoặc tạo giao dịch giả gây thiệt hại cho chủ thẻ và ngân hàng.
Thẻ thông minh: Thẻ thông minh là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thể hiện sự kết hợp thành công những ứng dụng hiện đại của công nghệ thông tin trong lĩnh vực thẻ, đó là việc sử dụng chíp điện tử. Thông thường, trên tấm thẻ thông minh được gắn chíp điện tử thay thể cho dải băng từ sau thẻ. Cũng có trường hợp thẻ thông minh có gắn cả chíp điện tử và dải băng từ. Dựa trên kỹ thuật xử lý tin học, thẻ sẽ được gắn chíp bộ nhớ và chíp xử lý số liệu.
Trong đó chíp bộ nhớ lưu giữ toàn bộ các thông tin cung cấp cho thẻ trong mỗi lần sử dụng, còn chíp xử lý số liệu có khả năng bổ sung, xóa hoặc điều chỉnh thông tin trong bộ nhớ. Thẻ thông minh có các đặc điểm là tính an toàn và bảo mật cao, hơn nữa nhờ bộ phận xử lý chíp điện tử đã giúp cắt giảm chi phí xử lý đối với ngân hàng và các trung gian thanh toán bởi ngay tại thởi điểm chủ thẻ thực hiện giao dịch, thông tin của chủ thẻ cũng như trong việc cập nhật thông tin liên quan đến thẻ đã được thực hiện ngay tại cơ sở chấp nhận thẻ. Tuy nhiên do thẻ là loại thẻ công nghệ mới, chi phí sản xuất cao nên việc phát hành và chấp nhận thanh toán loại thẻ này mới chỉ phổ biến tại các nước phát triển. 7 Theo chủ thẻ phát hành: Thẻ do ngân hàng phát hành: Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp khách hàng sử dụng một cách linh hoạt tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là loại thẻ du lịch, giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành, hiện nay trên thế giới thẻ Dinner Club, thẻ American Express (gọi tắt là Amex) và thẻ JCB được sử dụng phổ biến nhất.
Ngoài ra, một số công ty lớn cũng phát hành thẻ riêng cho các đối tượng công ty có hướng tới mục đích kinh doanh của công ty. Theo tính chất thanh toán: Thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cho phép khách hàng chi tiêu trước, trả tiền sau theo quy định của ngân hàng. Mỗi lần chi trả hoặc rút tiền mặt là một lần chủ thẻ nhận nợ vay với ngân hàng. Để sử dụng thẻ này chủ thẻ này chủ thẻ phải có một số điều kiện nhất định, trên cơ sở đó ngân hàng sẽ cấp một hạn mức nhất định cho chủ thẻ và chủ thẻ được sử dụng trong hạn mức đó, đến hạn quy định phải hoàn trả cho ngân hàng.
Với mỗi ngân hàng, thời gian yêu cầu chủ thẻ phải thanh toán dư nợ thẻ là khác nhau phụ thuộc vào từng loại thẻ.