Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG ÁP DỤNG CHO THỊ TRƯỜNG THẺ THANH TOÁN 1. Lý luận chung về thị trường và phát triển thị trường 1. Khái niệm thị trường Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới trải qua rất nhiều hình thái kinh tế khác nhau, và trong mỗi hình thái phát triển kinh tế thì thị trường luôn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi nền kinh tế. Có thể nói, từ thời kỳ nền kinh tế chưa có sự xuất hiện của tiền tệ đã có những quan hệ trao đổi hàng hoá, đó là các quan hệ trao đổi trực tiếp.
Trao đổi trực tiếp là quá trình trao đổi diễn ra giữa hàng và hàng, và thuật ngữ thị trường cũng đã xuất hiện từ giai đoạn này. Trong Kinh tế học vi mô [1], thị trường được định nghĩa là tập hợp tất cả các người bán và người mua, tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Các thị trường tạo thành những mối dây liên kết giữa các đơn vị riêng biệt tạo thành nền kinh tế. Và cũng chính thông qua các thị trường mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp cũng như các đơn vị nhà nước mới tác động lẫn nhau bằng việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ kinh tế.
Đối với lý thuyết về Marketing [2], thị trường được định nghĩa là những người mua tiềm năng hoặc hiện tại đối với một sản phẩm hay dịch vụ. Theo cách rộng hơn, thị trường bao gồm những người bán (thị trường sức lao động), những người bán và người mua trong một khu vực địa lý, những người bán và người mua đối với một loại sản phẩm hay nhu cầu Với cách định nghĩa như trên, lý thuyết Marketing phân loại thị trường theo: phạm vi địa lý (thị trường trong nước, thị trường quốc tế), theo đặc điểm hoạt động và mục đích mua sắm (thị trường người tiêu dùng, thị trường nhà 2 sản xuất, thị trường nhà trung gian, thị trường tổ chức phi lợi nhuận), theo mục tiêu phục vụ của người bán (thị trường toàn bộ, thị trường tiềm năng và thị trường sẵn có, thị trường mục tiêu, thị trường thâm nhập được). Ngoài khái niệm về thị trường trong kinh tế vi mô, hay trong marketing theo khái niệm thường xuyên được sử dụng trong các nghiên cứu ứng dụng thì thị trường được hiểu là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá, thông qua đó đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong nền kinh tế. Mức độ phát triển của thị trường phụ thuộc vào mức độ và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và xã hội.
Khối lượng sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì quy mô, chủ thể và khối lượng giao dịch của thị trường sẽ càng lớn. Hàng hoá trên thị trường ngày càng đa dạng, có thể là sản phẩm vật chất hoặc dịch vụ, do đó, thị trường cũng được phân chia thành nhiều loại khác nhau như: thị trường hàng hoá thông thường, thị trường hàng hoá là các dịch vụ, hoặc thị trường tài chính và thị trường phi tài chính. Khái quát chung về các lý thuyết phát triển thị trường Liên quan đến vấn đề về phát triển thị trường, trong kinh tế học vi mô, người ta đưa ra khái niệm quy mô của thị trường và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô của thị trường. Theo đó, quy mô của thị trường bị giới hạn do tính đồng nhất của sản phẩm, cũng như do các chi phí vận chuyển, thông tin liên lạc với quan hệ như sau: • Khi tính đồng nhất (hay tính giống nhau) của sản phẩm càng nhiều thì thị trường càng hẹp và càng ít thì thị trường càng rộng.
• Khi chi phí vận chuyển so với giá trị hàng hoá càng cao thì thị trường càng hẹp và ngược lại càng thấp thì thị trường càng rộng. • Khi chi phí thông tin và liên lạc so với giá trị của hàng hoá càng cao thì thị trường càng hẹp và ngược lại càng thấp thì thị trường càng rộng. 3 Như vậy, nếu coi các yếu tố về chi phí vận chuyển và chi phí thông tin liên lạc so với giá trị hàng hoá là các yếu tố liên quan đến đặc tính của sản phẩm và khó có thể thay thế, thì tính đồng nhất của sản phẩm là cơ sở để phát triển thị trường. Theo đó, để phát triển thị trường hay nói theo cách phát biểu của kinh tế học vi mô là mở rộng quy mô thị trường, cần phải đa dạng hoá các sản phẩm hay nói cách khác là làm giảm tính đồng nhất của sản phẩm để tăng quy mô của thị trường.
Lý luận về phát triển thị trường còn được đề cập trong lý thuyết về quản trị chiến lược với việc doanh nghiệp đưa ra các chiến lược cấp “công ty” khác nhau nhằm xây dựng và phát triển thị trường trong các điều kiện cụ thể của thị trường. Chiến lược cấp công ty là loại chiến lược thường đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất, nó vạch ra mục tiêu phát triển cho doanh nghiệp trong khoảng thời gian dài. Chiến lược cấp công ty quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Chiến lược cấp công ty liên quan đến phát triển thị trường thường được đề cập ở các loại chiến lược sau : + Chiến lược tăng trưởng tập trung là loại hình chiến lược tăng trưởng bằng cách tập trung nguồn lực vào việc phát triển một hoặc một vài đơn vị kinh doanh chiến lược mà doanh nghiệp tự chủ về công nghệ sản xuất và có nhiều ưu thế về nguồn lực và vị thế cạnh tranh.
Bản chất của chiến lược này là loại hình chiến lược chuyên môn hoá, không tập trung đầu tư dàn trải mà chỉ tập trung vào những lĩnh vực có thế mạnh. Chiến lược tăng trưởng tập trung gồm các hình thức sau: Chiến lược thâm nhập thị trường: là chiến lược làm tăng quy mô doanh số của doanh nghiệp bằng cách chiếm thị phần của đối thủ cạnh tranh trong phạm vi thị trường cũ. Không mở rộng phạm vi và quy mô thị trường. Đối với hình thức này doanh nghiệp phải tạo ra được ưu thế nổi trội so với đối thủ cạnh tranh.
4 • Chiến lược phát triển thị trường: là loại hình tăng trưởng bằng cách mở rộng phạm vi hoạt động của thị trường. Từ thị trường trong nước ra thị trường nước ngoài, mở rộng đối tượng khách hàng hoặc là các biện pháp kích thích làm tăng tiêu dùng trong phạm vi tiêu dùng hiện có. • Chiến lược cải tiến sản phẩm: Trên cơ sở sản phẩm cũ, doanh nghiệp đưa ra được nhiều mẫu mã hơn, cải tiến những tính năng tác dụng của sản phẩm nhằm thoả mãn nhiều đối tượng khách hàng hơn, nhờ có kích thích được tiêu dùng giúp doanh nghiệp thâm nhập và mở rộng thị trường. + Chiến lược tăng trưởng đa dạng hoá là loại hình chiến lược tăng trưởng của doanh nghiệp bằng cách thâm nhập vào một đơn vị kinh doanh chiến lược hoặc một lĩnh vực kinh doanh chiến lược mới.
Do đó, khi xét theo đối tượng ta có các loại chiến lược tăng trưởng đa dạng hoá sau: Đa dạng hoá sản phẩm, đa dạng hoá thị trường, đa dạng hoá công nghệ. + Chiến lược tăng trưởng hội nhập là chiến lược tăng trưởng của doanh nghiệp bằng cách tăng cường sự kiểm soát hoặc nắm quyền sở hữu của một hoặc một số doanh nghiệp khác. Có các hình thức tăng trưởng hội nhập sau: • Tăng trưởng hội nhập dọc: là việc tăng trưởng bằng cách doanh nghiệp tăng cường sự kiểm soát với các nhà cung cấp hoặc các nhà cung cấp nhằm củng cố, đảm bảo vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp về lâu dài. Hội nhập dọc về phía sau là doanh nghiệp đầu tư hoặc kinh doanh các sản phẩm hoặc dịch vụ của nhà cung cấp; • Tăng trưởng hội nhập ngang: là việc tăng trưởng bằng cách tăng cường sự kiểm soát hoặc nắm quyền sở hữu của một hoặc một số đối thủ cạnh tranh.
Bản chất của tăng trưởng hội nhập ngang là chiến lược tăng trưởng chuyên môn hoá, tăng trưởng trên nền sản phẩm cũ, mở rộng quy mô. Đi kèm với các chiến lược ở cấp công ty là các loại chiến lược cấp đơn vị kinh doanh chi tiết được xây dựng dựa trên nguồn lực của công ty và điều 5 kiện thị trường nhằm phát triển thị trường như: chiến lược giá rẻ khối lượng lớn, chiến lược khác biệt hoá, chiến lược trọng tâm hoá …. Đối với lý thuyết marketing cơ bản, các vấn đề về lý luận phát triển thị trường thường được thể hiện thông qua việc thực hiện phối hợp của 4P: chính sách sản phẩm như chính sách về chiều rộng hỗn hợp của sản phẩm (thêm/bớt dòng sản phẩm), hay chính sách về chiều dài của hỗn hợp sản phẩm (thêm bớt các thương hiệu trong các dòng sản phẩm); chính sách giá (giá theo khu vực địa lý, giá cho sản phẩm mới/gia nhập thị trường, giá theo hình thức giảm giá, chiến lược giá phân biệt và giá cho hỗn hợp sản phẩm), chính sách phân phối sản phẩm và chính sách xúc tiến bán. Lý thuyết phát triển thị trường áp dụng cho thị trường thẻ thanh toán của các ngân hàng thương mại 1.
Giới thiệu chung về thẻ thanh toán 1. Khái niệm thẻ thanh toán Thẻ thanh toán là một phương toán không dùng tiền mặt do ngân hàng hoặc các tổ chức chuyên biệt phát hành cấp cho khách hàng, được sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý, các máy rút tiền tự động hoặc thanh toán hàng hóa dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thẻ trong phạm vi số dư tài khoản hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa các tổ chức phát hành thẻ và chủ thẻ. Hầu hết các loại thẻ hiện nay được làm bằng nhựa cứng (plastic) cấu tạo thành 3 lớp được ép với kỹ thuật cao. Thẻ có hình chữ nhật, chung một kích thước là : 84mm x 54mm x 0,76mm , có góc tròn và gồm 2 mặt : Mặt trước của thẻ bao gồm: - Tên thẻ và các biểu tượng của tổ chức phát hành thẻ.
Ví dụ: Biểu tượng của thẻ VISA là hình con chim bồ câu đang bay được thể hiện trong không gian 3 chiều. Biểu tượng của Master Card gồm 2 phần: phần Halogram (tức ảnh nổi 3 chiều) có in hình quả địa cầu và các lục địa, ngoài ra còn có 02 6 vòng tròn đỏ - vàng đan xen vào nhau, trên đó là dòng chữ "MasterCard". Tên và biểu tượng của thẻ do các tổ chức phát hành thẻ thiết kế nhằm làm tăng tính an toàn của thẻ và đề phòng giả mạo.