CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TR ỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐ VỚ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠ CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠ 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số k á ệm ơ bả - Ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó NHTM thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng”[theo Rose 4, tr13].
NHTM đã hình thành phát triển hàng trăm năm cùng với nền kinh tế hàng hóa và có rất nhiều định nghĩa về NHTM. Ở Mỹ, NHTM được coi là một công ty hoạt động trong ngành công nghiệp tài chính chuyên kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ tài chính. Còn ở Việt Nam, theo pháp lệnh Ngân hàng ban hành ngày 23/5/1990 xác định “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Như vậy NHTM là một trong những định chế tài chính với đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán.Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.Còn xét về bản chất NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận - lợi nhuận tối đa.
- Hoạt động cho vay của NHTM 7 Theo Rose, cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của Ngân hàng, để tài trợ chi tiêu của các doanh nghiệp, các cá nhân và các cơ quan chính phủ [15, tr615]. Hoạt động”cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế trong khu vực mà ngân hàng đó phục vụ. Ngoài ra, thông qua các khoản vay của Ngân hàng, thị trường sẽ có thêm thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách hàng, giúp họ có khả năng nhận thêm các khoản cho vay mới từ những nguồn khác với chi phí thấp hơn.” Theo khoản 1 điều 3 quyết định số 1627/2001/ QĐ – NHNN về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và trong khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận, trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Như vậy, cho vay là một hình thức chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu vốn sang người sử dụng vốn. Tuy nhiên sự chuyển nhượng này là có thời hạn và kèm theo chi phí phát sinh cũng như chứa đựng nhiều rủi ro.
-Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Trên cơ sở định nghĩa “cho vay” nêu trên và trong phạm vi của bài luận văn này, đối tượng khách hàng vay chính là các khách hàng cá nhân – là những cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể. Vì vậy, cho vay đối với khách hàng cá nhân là hình thức cấp tín dụng mà trong đó ngân hàng giao cho các cá nhân hoặc hộ gia đình một khoản tiền để sử dụng trong một thời hạn nhất định trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ cho các nhu cầu trong đời sống và phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể. Đặ đ ểm ủa o vay đố vớ á k á á Thứ nhất, quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn. Khác với đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp, các khách hàng cá 8 nhân thuộc nhiều thành phần trong xã hội, từ người có thu nhập cao cho tới người có thu nhập thấp với đủ mọi loại nhu cầu đa dạng và phong phú.
Mục đích vay vốn của các khách hàng cá nhân có thể chia làm hai loại: Vay để phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng như mua nhà, mua sắm vật dụng trong gia đình và phục vụ cho nhu cầu bổ sung nguồn vốn kinh doanh bị thiếu hụt. Tuy nhiên giá trị mỗi khoản vay là không quá lớn do giá trị hàng hóa phục vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân là vừa phải và đa số các khách hàng đã có sự tích lũy từ trước đó với các tài sản có giá trị. Bên cạnh đó, với những khách hàng vay vốn với mục đích kinh doanh, do năng lực và tài chính còn hạn chế nên hoạt động kinh doanh thường không có quy mô lớn, vốn bổ sung cũng cần ít hơn so với các khách hàng doanh nghiệp. Thứ hai, cho vay cá nhân có mức độ rủi ro cao nhưng mức độ phân tán rủi ro tốt Trong quy trình thẩm định cho vay, các thông tin quan trọng để làm cơ sở ra quyết định còn mang tính định tính nhiều hơn là định lượng và rất khó xác định được một cách đúng dắn nhất như: tư cách khách hàng, tình hình tài chính…Tình trạng này thường dẫn tới rủi ro do thông tin bất cân xứng.
Nguồn trả nợ chủ yếu của các khách hàng cá nhân là đến từ nguồn thu nhập ở thời điểm hiện tại. Do vậy các biến cố bất ngờ như tình hình sức khỏe, thất nghiệp…của khách hàng cá nhân ảnh hưởng rất lớn tới việc hoàn trả nợ cho ngân hàng và ngân hàng hoàn toàn không thể kiểm soát được. Bên cạnh đó không thể không kể tới rủi ro trong quá trình tác nghiệp của các cán bộ ngân hàng, nhất là với số lượng các khoản vay cá nhân rất lớn như vậy thì sai sót là hoàn toàn có thể xảy ra. Các cán bộ có thể chủ quan, hoặc thậm chí lợi dụng sự lỏng lẻo và sơ hở của các quy định và công tác quản lý để cấu kết với khách hàng hoặc chiếm đoạt tài sản của khách hàng.
Tuy nhiên, do số lượng khoản vay lớn nhưng doanh số mỗi khoản vay nhỏ nên mức độ phân tán rủi ro khá tốt. 9 Thứ ba, các khoản vay thường là ngắn hạn, một phần nhỏ là trung hạn và dài hạn do mục đích của các khoản vay là phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong đời sống. Thứ tư, cho vay cá nhân gây tốn kém nhiều chi phí Xuất phát từ đặc điểm số lượng các khách hàng cá nhân lớn nhưng lại phân tán rộng nên để duy trì và phát triển cho vay cá nhân sẽ tốn kém nhiều chi phí hơn cho công tác: mở rộng mạng lưới tiếp cận KHCN, phát triển đội ngũ nhân sự nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng…. Ngoài ra, do việc thu thập thông tin cá nhân là rất khó khăn so với việc nắm bắt thông tin từ các khách hàng doanh nghiệp hay tổ chức ( nguồn thông tin được minh bạch và công khai hơn, từ các báo cáo tài chính, cơ quan thuế…) nên ngân hàng cũng phải tốn nhiều chi phí hơn vào hoạt động thẩm định và giám sát các khoản vay để đảm bảo an toàn.
Va trò ủa oạt độ o vay khách hàng cá nhân 1. Đối với ngân hàng Tối đa hóa lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp và một tổ chức kinh doanh tiền tệ cũng không nằm ngoài mục tiêu đó. Ngân hàng thu lợi nhuận chủ yêu thông qua các dịch vụ và giải pháp tài chính cung cấp cho khách hàng, trong đó cho vay là hoạt động chủ đạo chiếm gần 80% doanh thu. Trong đó cho vay khách hàng cá nhân càng ngày chiếm một tỷ trọng càng lớn trong tổng cơ cấu cho vay.
- Cho vay khách hàng cá nhân góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng Đối tượng khách hàng cá nhân đông đảo và thuộc nhiều thành phần sẽ giúp hình ảnh ngân hàng được quảng bá rộng khắp. Ngoài hình thức cho vay, Ngân hàng còn có thể bán chéo các sản phẩm dịch vụ khác như: tiết kiệm, mở thẻ…giúp tăng doanh thu và thỏa mãn nhu cầu tối đa của khách hàng. Thông qua đó tạo ra nét khác biệt cho chính Ngân hàng so với các đối thủ cạnh tranh, 10 giúp nâng cao thương hiệu. - Cho vay khách hàng cá nhân sẽ góp phần phân tán rủi ro cho ngân hàng Nếu một ngân hàng chỉ tập trung cho vay các khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, vì lý do nào đó mà hoạt động kinh doanh của các khách hàng này gặp khó khăn gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Do vậy, các ngân hàng phát triển cho vay KHCN như một sự phân tán rủi ro vì với số lượng khách hàng cá nhân đông, số tiền vay ít thì khi có một khách hàng hoặc một số ít khách hàng gặp rủi ro dẫn đến không có khả năng trả nợ thì ít gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đối với các khách hàng cá nhân Nhu cầu vốn của các cá nhân là rất lớn và phát sinh khá thường xuyên. Tuy nhiên họ có thể rất khó để thỏa mãn đầy đủ nhu cầu vốn của mình đúng thời gian và đáp ứng đủ số lượng, nếu không có các ngân hàng. Bởi rất ít khi có thể tìm được sự đáp ứng đúng lúc giữa người thừa vốn và người thiếu vốn.
Trong khi đó người thiếu vốn có thể tìm đến với ngân hàng bất cứ lúc nào, với các khoản vay có thời gian linh hoạt. Thay vì phải tích lũy đủ vốn ở hiện tại để thực hiện các kế hoạch cá nhân trong tương lai hay nhất là trong các trường hợp khó khăn cấp bách như hiếu hỷ, cưới hỏi, ốm đau…, họ hoàn toàn có thể tìm tới với ngân hàng như một giải pháp trong lúc thiếu vốn đó. Chất lượng cuộc sống của họ cũng được nâng lên. Thêm vào đó, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân còn là một kênh hiệu quả để các NHTM đầu tư vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh và cá nhân, tạo điều kiện cho họ mở rộng hoạt động kinh doanh, cải thiện đời sống.
Đối với nền kinh tế Để phát triển kinh tế thì vốn là yếu tố tiên quyết không thể thiếu.