CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH 1. Lý luận về du lịch 1. Khái niệm “du lịch” Khái niệm du lịch đã được tranh luận từ rất lâu, thoạt đầu du lịch được quan niệm là việc một cá nhân hoặc một nhóm người đi khỏi chỗ ở của mình trong một thời gian ngắn để đến nơi khác nhằm mục đích nghỉ ngơi, chữa bệnh hoặc giải trí. Hiện nay, mọi hoạt động di chuyển của con người khỏi nơi cư trú trong một thời gian ngắn để nhằm các mục đích khác nhau, ngoại trừ việc di trú nhằm mục đích chính trị, tìm việc làm và xâm lược, đều được hiểu là du lịch [3, tr.
Theo Hiệp hội quốc tế các tổ chức chính thức về du lịch (IUOTO): “Du lịch là hoạt động có tính thường xuyên hay bất thường của một cá nhân hay con người, tạm thời rời xứ sở đang cư trú bằng phương tiện ôn hòa để đến một vùng hoặc một quốc gia khác nhằm mục đích thăm viếng, giải trí, tìm hiểu, nghỉ ngơi… sẽ hồi cư sau một thời gian dự định”. Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới (UN - WTO): “Du lịch là tổng thể của những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh do sự tác động qua lại giữa khách du lịch, người kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch”. Đối với nước ta, Luật Du lịch đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Hoạt động du lịch ban đầu chỉ có ít người tham gia, dần dần, số người tham gia ngày càng nhiều, thời gian càng lâu, không gian càng xa và mục đích ngày càng đa dạng.
Lúc này du lịch trở thành một ngành kinh tế quốc dân, thuộc lĩnh vực dịch vụ. Đó là kết quả của quá trình phát triển của phân công lao động xã hội của loài người. Khái niệm “khách du lịch” Định nghĩa về khách du lịch xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ thứ XVIII tại Pháp, khách du lịch được định nghĩa là người thực hiện một cuộc hành trình lớn “faire le grand tour” [3,tr. Theo định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia (League of Nations): Khách du lịch là những người khởi hành để giải trí vì những nguyên nhân gia đình, sức khỏe; Những 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người khởi hành để gặp gở, trao đổi các mối quan hệ về khoa học, ngoại giao, tôn giáo, công vụ,…; Những người khởi hành vì các mục đích kinh doanh; Những người cặp bến từ các chuyến hành trình du ngoạn trên biển thậm chí cả khi họ dừng lại trong khoảng thời gian ít hơn 24 giờ.
Theo Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam ban hành năm 1999, khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế, là những người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Trong đó: Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam; Khách du lịch quốc tế là những người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài định cư tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch. Sản phẩm dịch vụ ngành du lịch Sản phẩm du lịch là các hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: Cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó [3,tr. Sản phẩm của ngành dịch vụ du lịch là một sản phẩm kinh tế đặc biệt, là kết qủa của quá trình lao động trong lĩnh vực dịch vụ du lịch.
Quá trình lao động dịch vụ du lịch cũng là quá trình kết hợp sức lao động, đối tượng lao động và công cụ lao động để tạo ra những sản phẩm du lịch. Sản phẩm của quá trình lao động này không phải là những nhà hàng, khách sạn, hồ bơi, khu nghỉ dưỡng,… những thứ có thể nhận biết qua tiếp xúc trực quan được mà sản phẩm của quá trình lao động này là vô hình, đó là sự bảo đảm nhu cầu hiểu biết, giải trí, phục hồi sức khỏe sau thời gian làm việc căng thẳng, đó chính là sự hài lòng của khách hàng đối với việc đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu trên. Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm dịch vụ du lịch cũng trở thành hàng hoá, được trao đổi, mua bán trên thị trường. Là hàng hoá nên nó cũng có đầy đủ các thuộc tính: Giá trị và giá trị sử dụng như những hàng hoá khác.
Giá trị của hàng hoá dịch vụ du lịch thể hiện ở chỗ chúng cũng là kết quả của quá trình lao động của người lao động, là sự kết tinh của lao động xã hội trong đó. Nhưng là lao động phi sản xuất vật 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất, chúng có giá trị sử dụng bởi vì chúng cũng thoả mãn nhu cầu nào đó của con người. Những sản phẩm hàng hoá dịch vụ du lịch được mua bán trao đổi trên thị trường cũng tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị: cung, cầu, cạnh tranh,… giá cả của hàng hoá dịch vụ trên thị trường về bản chất cũng là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị, người mua nó cũng trả một khoản tiền cho người bán khi muốn mua nó để phục vụ cho nhu cầu của mình. Chẳng hạn, khi muốn đi du lịch ở nơi nào đó, trong thời gian bao lâu, du khách cũng phải trả một giá cho sản phẩm du lịch mà mình được sử dụng cho Công ty lữ hành mà mình chọn.
Sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được. Trên thực tế, không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến với nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch. Đặc điểm này của sản phẩm du lịch là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho các nhà kinh doanh du lịch trong việc tiêu thụ sản phẩm. Như vậy, sản phẩm du lịch là hàng hóa và dịch vụ du lịch dựa trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên du lịch.
Từ khái niệm này, cơ cấu của sản phẩm du lịch thể hiện qua 2 khía cạnh: Theo nghĩa tổng quát, sản phẩm du lịch bao gồm 3 bộ phận hợp thành (Thành phần tạo lực hấp dẫn; Cơ sở du lịch và dịch vụ du lịch); Theo nghĩa cụ thể, sản phẩm du lịch bao gồm 7 bộ phận hợp thành (Sản phẩm tham quan; sản phẩm vận chuyển; Sản phẩm lưu trú; Sản phẩm ăn uống; Sản phẩm vui chơi giải trí; Sản phẩm mua sắm và Sản phẩm thông tin du lịch). Cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch Theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ, hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách trong các chuyến hành trình của họ [3, tr. Theo nghĩa hẹp, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ, hàng hóa cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của du khách. Bao gồm hệ thống nhà hàng, khách sạn, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển,…[3, tr.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Yêu cầu đối với cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là mức độ tiện nghi, thẩm mỹ, vệ sinh và an toàn. Nguồn nhân lực du lịch Ngành du lịch mặc dù có liên quan đến nhiều ngành và lĩnh vực khác nhau và mang tính chất khác nhau nhưng xét về bản chất, nó bao gồm một số lĩnh vực kinh doanh nhất định. Do đó, nếu xét trên mức độ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của ngành du lịch và của mỗi doanh nghiệp, lao động trong lĩnh vực kinh doanh du lịch có thể phân thành 3 nhóm gồm: Nhóm lao động chức năng quản lý Nhà nước về du lịch; Nhóm lao động chức năng sự nghiệp ngành du lịch và Nhóm lao động chức năng kinh doanh du lịch. Trong đó, nhóm lao động chức năng kinh doanh du lịch có thể phân thành 4 bộ phận là: Bộ phận lao động chức năng quản lý chung của doanh nghiệp du lịch; Bộ phận lao động chức năng quản lý theo các nghiệp vụ kinh tế trong doanh nghiệp du lịch; Bộ phận lao động chức năng đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp du lịch và Bộ phận lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách trong doanh nghiệp du lịch.
Việc nghiên cứu và phân tích đúng vai trò, đặc điểm của các nhóm lao động nói trên sẽ là cơ sở định ra phương hướng, giải pháp quản lý, phát triển và sử dụng hữu hiệu nhân lực du lịch. Vai trò của du lịch đối với tăng trưởng kinh tế Du lịch có một vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của con người và được thể hiện qua những điểm dưới đây: Thứ nhất, du lịch có vai trò rất lớn trong việc tôn tạo chỉnh trang các di tích lịch sử, góp phần xây dựng và nâng cao đời sống vật chất cho người dân địa phương; Sử dụng sản phẩm dịch vụ du lịch giúp con người bảo vệ, phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức sống. Qua thời gian lao động, làm việc căng thẳng, người ta đi du lịch, được nghĩ ngơi, giải trí, tĩnh dưỡng nơi thiên nhiên,… nhờ đó hạn chế được bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và tăng khả năng lao động của con người, đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động xã hội. Thứ hai, du lịch có tác động tạo nên môi trường sống ổn định về mặt sinh thái, kích thích việc bảo vệ, khôi phục môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì nó có tác động đến sức khoẻ và các hoạt động của con người.
Thứ ba, du lịch quốc tế có tác dụng cũng cố mối quan hệ hoà bình, thân thiện giữa các dân tộc, làm cho con người trên thế giới ngày càng hiểu biết nhau hơn. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.