CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 1.1 Khái niệm, dặc điểm, vai trò của Doanh nghiệp xã hội 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp xã hội 1.1 Sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp xã hội Doanh nghiệp xã hội đầu tiên xuất hiện ở nước Anh vào thế kỳ XVII. Trong các thế kỳ tiếp theo lần lượt các mô hình tín dụng vi mô, hợp tác xã, nhà ở xã hội, hội ái Hữu… đã ra đời và được nhân rộng ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên DNXH chỉ phát triển mạnh mẽ và trở thành một phong trào rộng lớn trên thế giới như hiện nay kể từ đầu những năm 1980, khi mô hình nhà nước phúc lượi dần những chỗ cho quan điểm đổi mới vai trò của nhà nước theo hướng tinh giảm, nhỏ gọn, chia sẻ và chuyển một phần chức năng cung cấp phúc lợi xã hội cho khu vực thứ ba là các tổ chức đứng giữa các khu vực công và các doanh nghiệp tư nhân. Trên phạm vi toàn cầu, phong trào DNXH cũng nở rộ, điển hình nhất là mô hình Grameen Bank của Bangladesh và người sáng lập được trao giải thưởng Nobel năm 2006.
Nhiều quốc gia đã chính thức công nhận DNXH và tạo lập khung khổ pháp lý, ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ sự phát triển DNXH ở nước mình để khu vực này hỗ trợ lại nhà nước thực hiện có hiệu quả hơn các mục tiêu xã hội. Có thể thấy, hầu hết các DNXH thường được thành lập một cách khá tự phát dựa vào sự sáng tạo của người sáng lập nhằm giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể nhất định. Vì nhu cầu của một giải pháp xã hội, họ có thể biến đổi tổ chức theo hướng ‘lai’ giữa mô hình từ thiện hoặc phi lợi nhuận và hoạt động kinh doanh, mà không biết tổ chức đang hoạt động theo mô hình DNXH. Đơn cử như trường hợp của KOTO, ông Jimmy Phạm đã cung cấp điều kiện ăn ở cho một số trẻ em đường phố ở TP.
Hồ Chí Minh từ đầu những năm 1990. Tuy nhiên, xuất phát từ mong muốn tạo cho các em một sinh kế bền vững, như câu ngạn ngữ “đừng cho con cá, hãy cho cần câu”, ông thành lập công ty trong lĩnh vực nhà hàng để vừa đào tạo nghề cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vừa có địa điểm để các em thực hành, cũng như có nguồn thu bổ sung các nguồn tài trợ hiện hữu cho các hoạt động dạy nghề (học viên nhận học bổng 100%). 4 Cho đến sau năm 2008, khi một số tổ chức trung gian phát triển DNXH như CSIP và Spark ra đời, khái niệm DNXH mới chính thức được giới thiệu vào Việt Nam một cách rộng rãi.Doanh nghiệp xã hội là một khái niệm mới được luật hóa quy định cụ thể tại Điều 10 Luật Doanh Nghiệp năm 2014.Có thể thấy, sau rất nhiều năm chờ đợi, cộng đồng doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam đã đứng trước một cơ hội mang tính chất bước ngoặt, lần đầu tiên doanh nghiệp xã hội được công nhận về mặt pháp lý. Mô hình doanh nghiệp xã hội đầu tiên hoạt động tại Việt Nam là hợp tác xã.
Tuy nhiên, doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam phát triển mạnh chủ yếu từ sự chuyển đổi của các tổ chức phi chính phủ hơn là sự phát triển của các hợp tác xã như mô hình ở các nước châu Âu. Hiện tại, các doanh nghiệp xã hội đang hoạt động dưới bốn loại hình pháp lý: doanh nghiệp, hợp tác xã, trung tâm, câu lạc bộ - hiệp hội. Trong số đó, trung tâm là hình thức được ưa chuộng hơn cả với 33%, loại hình doanh nghiệp đứng thứ hai với gần 30%, câu lạc bộ và hiệp hội chiếm khoảng 15% và hợp tác xã khoảng 10%(1). Hình thức trung tâm phổ biến vì dễ thành lập và có tính linh hoạt trong hoạt động.
Các doanh nghiệp xã hội Việt Nam hoạt động tương đối rộng trên khắp các lĩnh vực, giải quyết rất nhiều vấn đề từ việc làm, giáo dục, xóa đói, giảm nghèo cho tới các cộng đồng người bị thiệt thòi và bị cách ly. Ba lĩnh vực phổ biến nhất là: đào tạo nghề và tạo công ăn việc làm, thủ công mỹ nghệ, dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Điều khiến cho các doanh nghiệp xã hội Việt Nam khác biệt so với các doanh nghiệp xã hội ở phương Tây là sự tham gia của người nước ngoài. Trong đó có một số người là Việt kiều, một số khác hoàn toàn là người nước ngoài.
Các doanh nghiệp xã hội do người nước ngoài lập ra đang phát triển rất nhanh. 20% các doanh nghiệp xã hội nhận được sự hỗ trợ từ Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP) là thuộc sở hữu nước ngoài(2).Khái niệm doanh nghiệp xã hội Thuật ngữ “Doanh nghiệp xã hội” xuất hiện chính thức từ những năm cuối thế kỷ XX. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chung thống nhất toàn cầu về doanh nghiệp xã hội. Một số định nghĩa phổ biến là: 5 Trong những cách hiểu đa dạng về DNXH, khái niệm rộng nhất xem “DNXH là một mô hình kinh doanh, đem lại lợi nhuận, bề ngoài như các doanh nghiệp truyền thống khác, chỉ yêu cầu một điều kiện duy nhất là đặt sứ mệnh xã hội ở vị trí trung tâm, trong khi mục tiêu lợi nhuận đóng vai trò hỗ trợ.” Một cách định nghĩa khác theo nghĩa rộng cũng cho rằng “DNXH hoạt động như mọi doanh nghiệp nhưng việc quản lý và sử dụng lợi nhuận đều hướng vào các mục tiêu xã hội và môi trường.” Ngược lại, cũng có một số cách định nghĩa rất ‘hẹp’ về DNXH.
Một số ý kiến yêu cầu DNXH phải ‘đăng ký dưới hình thức công ty, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác. Chính phủ Anh định nghĩa: “DNXH là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Cách định nghĩa này rất toàn diện, bám sát những đặc điểm cơ bản của DNXH. Một là, kinh doanh (business) cần được hiểu như một mô hình, phương án, giải pháp có và thông qua hoạt động kinh doanh hơn là ràng buộc DNXH vào hình thức công ty xơ cứng, vốn suy cho cùng cũng chỉ là công cụ tổ chức.
Hai là, mục tiêu xã hội được đặt ra như một sứ mệnh cơ bản và trước tiên (primarily) của việc thành lập tổ chức đó. DNXH phải là tổ chức được lập ra vì mục tiêu xã hội. Ba là, về nguyên tắc (principally) lợi nhuận được tái phân phối lại cho tổ chức hoặc cộng đồng, không phải cho cá nhân. Tổ chức OECD định nghĩa: “DNXH là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuổi cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế.
DNXH thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn. Ngòai ra, DNXH còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường.” Một số cách định nghĩa khác Tổ chức hỗ trợ sáng kiến vì cộng đồng - CSIP của Việt Nam đưa ra quan điểm: “DNXH là một khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các doanh nhân xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích và điều kiện hoạt động cụ thể. DNXH lấy lợi ích xã hội làm mục tiêu chủ đạo, được dẫn dắt 6 bởi tinh thần doanh nhân nhằm đạt được cả mục tiêu xã hội/ môi trường và mục tiêu kinh tế”. Có thể nói khái niệm của CSIP về DNXH là rất rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức này tuyển chọn, ươm tạo và phát triển phong trào DNXH vốn còn rất non trẻ ở Việt Nam.
Theo quy định tại điều 10 Luật Doanh Nghiệp năm 2014 thì doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được đăng kí thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Mục tiêđồngu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng. Doanh nghiệp xã hội sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằn năm của donh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội , môi trường như đã đăng ký. Ngoài các quyền và nghĩa vụ của donah nghiệp theo quy định của Luật Doanh Nghiệp năm 2014, doanh nghiệp xã hội còn có quyền và nghĩa vụ quy định tại Khoản 2 Điều 10 Luật doanh Nghiệp.
Cụ thể như sau: - Duy trì mục tiêu và điều kiện về chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội trong xuốt quá trình hoạt động; trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật; - Chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ và giấy chứng nhận có lien quan theo quy định của pháp luật; - Được huy động và nhận tài trợ dưới các hình thức khác nhau từ các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác của Việt Nam và nước ngoài để bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp; - Không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký; - Trường hợp được nhận các ưu đãi, hỗ trợ, doanh nghiệp xã hội phải định kỳ hằng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động của doanh nghiệp; - Nhà nước có chính sách khuyến khích , hỗ trợ và thúc đảy phát triển doanh nghiệp xã hội. Đặc điểm và điều kiện thành lập DNXH 1. Đặc điểm Doanh nghiệp xã hội có những điểm đặc thù khác với đặc điểm của các hình thức kinh doanh, tổ chức phi lợi nhuận và các cơ quan quản lý nhà nước. - Trực tiếp giải quyết các vấn đề xã hội và góp phần làm tăng những giá trị tốt đẹp mang bản sắc chung của toàn xã hội thông qua hàng hóa, dịch vụ hoặc hỗ trợ những người gặp hoàn cảnh khó khăn nhưng được doanh nghiệp tuyển dụng.