Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động của dịch vụ thẻ thanh toán tại Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động của dịch vụ thẻ thanh toán tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á 3 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỘNG DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN 1. Khái niệm và phân loại thẻ thanh toán tại các ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm thẻ Ngân hàng Quá trình trao đổi sản phẩm là một trong bốn giai đoạn của quá trình sản xuất trong nền kinh tế.
Cùng với sự phát triển của các nền kinh tế, việc trao đổi hàng hóa cũng có bƣớc tiến từ trao đổi hàng – hàng sang trao đổi tiền – hàng. Trong quá trình đó, sự lƣu thông tiền tệ luôn gắn liền với lƣu thông hàng hóa. Khi nền kinh tế ở trình độ thấp, thanh toán các giao dịch kinh doanh thƣờng sử dụng hàng hoặc tiền. Sau đó, khi kinh tế phát triển ở trình độ cao hơn, khối lƣợng sản phẩm tạo ra tăng lên rõ rệt, cung đã vƣợt cầu nội địa, việc trao đổi hàng hóa đƣợc mở rộng ra phạm vi các nƣớc xung quanh và phạm vi quốc tế.
Lúc này, tiền mặt đã xuất hiện một số điểm hạn chế nhƣ tốn kém chi phí cho việc in ấn, vận chuyển lƣu thông, bảo quản, kiểm tra kiểm soát…và cũng không đáp ứng đƣợc nhu cầu thanh toán cho các giao dịch giữa các chủ thể xa nhau về khoảng cách địa lý, không đủ an toàn cho việc thanh toán đó. Và nhƣ vậy, cùng với sự giao lƣu kinh tế trên thế giới, nhu cầu về một hình thức mới cho việc thanh toán trong các giao dịch kinh tế trong nội địa cũng nhƣ trên quốc tế ngày càng cần thiết hơn. Thanh toán không dùng tiền mặt dựa trên nhu cầu đó đã ra đời. Thanh toán không dùng tiền mặt là sự lƣu thông của tiền tệ với chức năng là phƣơng tiện thanh toán trong các quan hệ kinh tế bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác hoặc bù trừ lẫn nhau với vai trò 4 trung gian của ngân hàng.
Do đó, thanh toán không dùng tiền mặt là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế. Lịch sử ngân hàng đã chứng kiến sự xuất hiện của nhiều hình thái tiền tệ, từ vỏ sò, thuốc lá đến các kim loại quý và tiền giấy để làm phƣơng tiện lƣu thông. Những hình thái này phảt triển cùng với sự tiến bộ của con ngƣời, con ngƣời càng văn minh bao nhiêu thì những hình thái này càng đa dạng về hình thức và chủng loại bấy nhiêu. Thẻ Ngân hàng đƣợc coi là hình thức thanh toán hiện đại nhất thế giới hiện nay, gắn liền với việc ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào ngành ngân hàng Thẻ Ngân hàng đã có lịch sử hình thành và ngƣời bán là trung tâm của Công nghiệp thẻ Nân hàng.
Lịch sử thẻ ngân hang bắt đầu khi một số nhà kinh doanh muốn mở rộng tín dụng đến khách hàng của họ bằng cách cho phép khách hàng của họ đƣợc phép ghi nợ vào tài khoản. Rất nhiều nhà kinh doanh nhỏ muốn áp dụng dịch vụ này và nhận biết họ không đủ năng lực để cung cấp tín dụng cho khách hàng của họ, đây chính là một cơ hội Hình thức thẻ ngân hàng đầu tiên là Charg-it, một hệ thống tín dụng đƣợc phát triển bởi John Biggins vào nằm 1946, cho phép khách hàng mua hàng tại những nơi bán lẻ. Các nhà kinh doanh ký quỹ tại ngân hàng Biggins và ngân hàng thu tiền thanh toán từ phía khách hàng và trả cho nhà kinh doanh. Hệ thống này đã chuẩn bị cho thẻ tín dụng đầu tiên lƣu hành vào năm 1951 tại New York do ngân hàng Franklin phát hành.
Sau đó, rất nhiều các tổ chức tài chính đã tham gia vào hệ thống thẻ ngân hàng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của văn minh nhân loại cũng nhƣ sự phát triển vũ bão của những ứng dụng khoa học kỹ thuật, thẻ ngân hàng đã khẳng định đƣợc tính ƣu việt của mình, ngày càng thu hút sự chú ý nghiên cứu ứng dụng của nhiều nƣớc trên thế giới. 5 Hiện nay trên thế giới có một số thƣơng hiệu thẻ nổi tiếng nhƣ Visa, Master Card, American Express (1958), Dinner Club (1950), JCB (1961) Một các khái quát nhất, thẻ Ngân hàng có thể đƣợc định nghĩa là một phƣơng tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản dƣợc các bên thoả thuận. Ngƣời chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để chuyển khoản, rút tiền mặt tại các ngân hàng hoặc tại máy giao dịch tự động (ATM) hoặc dùng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ.
Phân loại thẻ thanh toán tại các NHTM Có nhiều cách phân loại thẻ ngân hàng khác nhau nhƣng cách phân chia phổ biến nhất là cách phân chia theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ, theo nguồn tài chính dảm bảo cho việc sử dụng thẻ và theo đặc tính kỹ thuật của thẻ nhƣ sau: Theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ Thẻ nội địa: là thẻ đƣợc tổ chức phát hành thẻ trong nƣớc phát hành để giao dịch trong phạm vi lãnh thổ nƣớc đó, đồng tiền sử dụng trong các giao dịch thẻ nội địa là đồng nội tệ. Thẻ quốc tế: là thẻ đƣợc tổ chức phát hành thẻ trong nƣớc phát hành để giao dịch trong và ngoài lãnh thổ nƣớc đó, hoặc là thẻ đƣợc tổ chức nƣớc ngoài phát hành và giao dịch trong phạm vị lãnh thổ nƣớc đó. Theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ Thẻ ghi nợ (Debit card): là thẻ cho phép chủ thẻ đƣợc thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một số tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đƣợc phép nhận tiền gửi không kỳ hạn. Thẻ tín dụng (Credit card): là thẻ cho phép chủ thể thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã đƣợc cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ.
6 Thẻ trả trƣớc (Prepaid card): là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền đƣợc nạp vào thẻ tƣơng ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trƣớc cho tổ chức phát hành thẻ. Thẻ trả trƣớc bao gồm: thẻ trả trƣớc xác định danh tính (thẻ trả trƣớc định danh) và thẻ trả trƣớc không xác định danh tính (thẻ trả trƣớc vô danh). Theo đặc tính kỹ thuật Thẻ từ (Magnetic Stripe): là thẻ đƣợc sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với một băng từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Loại thẻ này đƣợc sử dụng phổ biến từ 20 năm nay, tuy thế, nó lại có một số nhƣợc điểm sau: - Khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trong thẻ không tự mã hoá đƣợc, kẻ gian có thể dễ dàng đọc thông tin bằng các thiết bị đọc gắn với máy vi tính.
- Thẻ mang tính thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp, không áp dụng kỹ thuật mã đảm bảo an toàn. Vì vậy, trong những năm gần đây loại thẻ này đã bị lợi dụng để lấy cắp tiền Thẻ thông mình (Smart Card): là loại thẻ có bộ vi xử lý điện tử. Thẻ thông minh an toàn và hiệu quả hơn thẻ từ do bộ vi xử lý điện tử có thể chứa thông tin nhiều hơn 80 lần so với dãy băng từ. Hoạt động thanh toán thẻ tại Ngân hàng thƣơng mại 1.
Các chủ thể tham gia hoạt động thanh toán thẻ Chủ thẻ (Cardholder) Chủ thẻ là cá nhân, tổ chức đƣợc tổ chức phát hành thẻ cung cấp thẻ để sử dụng, bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ. Chủ thẻ chính: là cá nhân hoặc tổ chức đứng tên thoả thuận về việc sử dụng thẻ với tổ chức phát hành thẻ và có nghĩa vụ thực hiện thoả thuận đó. 7 Chủ thẻ phụ: là cá nhận đƣợc chủ thể chính cho phép sử dụng thẻ theo thoả thuận về việc sử dụng thẻ giữa chủ thẻ chính và tổ chức phát hành thẻ. Chủ thẻ chịu trách nhiệm về việc sử dụng thẻ với chủ thẻ chính.
Đơn vị chấp nhận thẻ (Merchant) Đơn vị chấp nhận thẻ (gọi tắt là ĐVCNT) là tổ chức, cá nhận chấp nhận thanh toán hàng hoá dịch vụ, cung cấp dịch vụ nạo, rút tiền mặt bằng thẻ. Để có thể tham gia thanh toán thẻ, ĐVCNT phải ký hợp đồng với ngân hàng thanh toán và phải có tài khoản thanh toán tại ngân hàng đó. Ngân hàng phát hành thẻ (Issuer) Ngân hàng phát hành thẻ (gọi tắt là NHPH) là ngân hàng đƣợc tổ chức thẻ quốc tế hoặc công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thƣơng hiệu của tổ chức và công ty này. NHPH đƣợc quyền in tên ngân hàng mình trên thẻ để thể hiện đó là sản phẩm của mình và cần phải tuân theo những quy định do các tổ chức thẻ đặt ra.
NHPH tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở tài khoản và chịu trách nhiệm là ngƣời thanh toán trực tiếp với chủ thẻ trong các giao dịch thanh toán thẻ. Ngân hàng thanh toán thẻ (Acquirer) Ngân hàng thanh toán thẻ (gọi tắt là NHTT) là ngân hàng chấp nhận thẻ nhƣ một phƣơng tiện thanh toán thông qua việc ký hợp đồng chấp nhận thẻ với các đơn vị cung cấp hàng hoá dịch vụ. Ngân hàng sẽ cung cấp các thiết bị phục vụ cho việc thanh toán thẻ và hƣớng dẫn cách vận hành, bảo dƣỡng cũng nhƣ cách thức quản lý, xử lý những giao dịch thanh toán tại các đơn vị này. Đổi lại, trong mỗi giao dịch NHTT nhận đƣợc một khoản phí chiết khấu, mức phí này cao hay thấp phụ thuộc vào từng ngân hàng.
8 NHTT và NHPH đều phải thành viên của một tổ chức thẻ thì mới tham gia thanh toán thẻ đƣợc. Tổ chức thẻ Để hoạt động thanh toán thẻ đƣợc diễn ra thông suốt, cần phải có một tổ chức đứng ra làm trung gian truyền tải thông tin và giúp việc thanh toán giữa các ngân hàng. Có thể hệ thống lại những tổ chức thẻ nhƣ sau: Tổ chức thẻ quốc tế (gọi tắt là TCTQT) là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động và thanh toán thẻ trong mạng lƣới của mình. Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính tín dụng lớn có mạng lƣới hoạt động rộng khắp.