Chương 1 : Cơ sở lý luận về thẻ ngân hàng. Chương 2 : Thực trạng về dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex. Chương 3 : Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex. Thẻ thanh toán là một phương tiện ghi sổ những số tiền thanh toán thông qua thiết bị đọc thẻ phối hợp với hệ thống nối mạng vi tính để kết nối trung tâm phát hành thẻ với các điểm thanh toán, nó cho phép cuộc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và khá an toàn cho các đối tượng tham gia thanh toán.3 Các chủ thể tham gia trong thị trƣờng thẻ.
*Tổ chức thẻ quốc tế Tham gia thị trường với tư cách là người tổ chức thị trường. Những tổ chức này đứng ra liên kết với các thành viên, đặt ra các quy định bắt buộc các thành viên phải áp dụng và tuân theo thống nhất thành một hệ thống toàn cầu đối với thị trường thẻ quốc tế. Theo đó, các tổ chức này sẽ cấp giấy phép hoạt động phát hành và thanh toán các sản phẩm thẻ mang thương hiệu của tổ chức họ. Bất cứ ngân hàng nào hiện nay hoạt động trong lĩnh vực thẻ thanh toán quốc tế đều phải gia nhập vào một tổ chức thẻ quốc tế.
*Ngân hàng phát hành thẻ Tham gia vào thị trường với tư cách người tạo ra hàng hóa ( sản phẩm thẻ ) trên thị trường. Để có thể hoạt động trên thị trường đòi hỏi ngân hàng phát hành thẻ phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện hoạt động phát hành thẻ ra thị trường. Đối với các ngân hàng phát hành thẻ quốc tế, ngân hàng có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ của tổ chức thẻ quốc tế, các ngân hàng này sẽ phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản của chủ thẻ, đồng thời chịu trách nhiệm về việc thanh toán thẻ đó. *Ngân hàng thanh toán thẻ Tham gia thị trường với vai trò trung gian, hoạt động như là đại lý của ngân hàng phát hành thẻ, đồng thời cũng là thành viên chính thức hoặc thành viên liên kết của tổ chức thẻ quốc tế.
Ngân hàng thanh toán thẻ có nhiệm vụ thực hiện thanh toán thẻ theo hợp đồng dưới sự ủy quyền của các ngân hàng phát hành thẻ. Ngân hàng thanh toán là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với các ĐVCNT để tiếp nhận và xử lý các giao dịch về thẻ tại các ĐVCNT, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho ĐVCNT và sẽ được hưởng khoản phí hoa hồng từ ngân hàng phát hành thẻ và ĐVCNT. *Chủ thẻ -Trang 4- Là người mua hàng hóa trên thị trường. Chủ thẻ là người có tên trên thẻ do ngân hàng phát hành thẻ cấp và được quyền sử dụng tất cả những tiện ích mà thẻ mang lại như : thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ tại các ĐVCNT, rút tiền mặt, kiểm tra số dư…đồng thời chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ ( đối với thẻ tín dụng) và trả khoản phí cho ngân hàng (phí thường niên , phí rút tiền mặt…) khi sử dụng những tiện ích của dịch vụ thanh toán qua thẻ mà ngân hàng đã cung cấp.
*Đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ Là những đơn vị bán hàng hóa, dịch vụ, có ký hợp đồng với ngân hàng thanh toán thẻ để chấp nhận thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng thẻ như : cửa hàng, khách sạn, nhà hàng…Đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ tham gia thị trường thẻ nhằm tăng lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác do đã đa dạng hóa hình thức thanh toán tại đơn vị mình cũng như đáp ứng nhu cầu của khách hàng muốn sử dụng thẻ. Các đơn vị này sẽ được ngân hàng thanh toán trang bị những máy móc thiết bị cần thiết để tiếp nhận thanh toán thẻ thay cho tiền mặt và phải trả cho ngân hàng thanh toán một khoản chi phí dịch vụ khi sử dụng tiện ích này. Các chủ thể tham gia trong thị trường thẻ có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau, tất cả đều hoạt động dưới sự kiểm soát, quản lý của các tổ chức thẻ quốc tế và cơ quan quản lý của mỗi quốc gia nhằm giúp cho hoạt động trên thị trường thẻ diễn ra lành mạnh góp phần tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa tiền tệ được thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả .4 Phân loại thẻ.1Theo công nghệ sản xuất Thẻ khắc chữ nổi Để sản xuất loại thẻ này người ta dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi, trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Hiện nay loại thẻ này không còn được sử dụng vì kỹ thuật thô sơ, dễ bị làm giả.
Thẻ băng từ Được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với băng từ chứa thông tin ở mặt sau thẻ. Hiện nay loại thẻ này đang được sử dụng rộng rãi, tuy nhiên vẫn có một -Trang 5- số nhược điểm : thông tin trên thẻ không được mã hóa nên người ta có thể dễ dàng đọc được bằng các thiết bị đọc thẻ, do đó dễ bị làm giả. Thẻ thông minh Được sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học có gắn vào thẻ một vi mạch điện tử (con chíp) có cấu trúc như một máy vi tính.Với chíp điện tử, thẻ thông minh chứa nhiều thông tin hơn, vì vậy thẻ an toàn hơn, hạn chế nguy cơ bị làm giả.T hẻ chíp đang là xu hướng mới trong tương lai. Tuy nhiên chi phí đầu tư phát triển hệ thống thẻ thông minh cao hơn rất nhiều so với thẻ băng từ.2Theo chủ thể phát hành Thẻ do các ngân hàng phát hành Ngân hàng phát hành thẻ giúp khách hàng sử dụng linh hoạt tài khoản của mình hoặc vay trước một số tiền của ngân hàng để sử dụng.
Cùng với sự phát triển của công nghệ tin học, thẻ thanh toán ngày càng phát triển đa dạng về chủng loại, phong phú về chức năng. Hiện nay một số thẻ thanh toán được sử dụng trên phạm vi toàn thế giới như : Visa, MasterCard, American Express, JCB… Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành Các công ty cung ứng hàng hóa dịch vụ, tập đoàn kinh doanh lớn phát hành thẻ để tạo thêm tiện ích cho khách hàng cũng như thuận tiện trong việc quản lý tài chính và kích thích tiêu dùng.3Theo tính chất thanh toán Thẻ tín dụng Là loại thẻ mà chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng nào đó do ngân hàng phát hành thẻ cấp. Chủ thẻ có thể sử dụng trong hạn mức được ngân hàng cấp để rút tiền mặt, thanh toán hàng hóa dịch vụ …tại các ĐVCNT, ATM và không phải trả lãi cho số tiền đã sử dụng trong thời gian quy định. Hạn mức tín dụng đối với từng chủ thẻ sẽ do ngân hàng phát hành thẻ quyết định căn cứ vào uy tín, khả năng chi trả của chủ thẻ … Thẻ ghi nợ Là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoàn tiền gửi ( hoặc tài khoản thẻ ).
Ngay khi chủ thẻ mua hàng hóa hoặc rút tiền mặt thì sẽ bị khấu trừ ngay trong tài khoản tiền gửi. Chủ thẻ chỉ chi tiêu trên số tiền mình có trong tài -Trang 6- khoản. Tuy nhiên, tùy sự thỏa thuận giữa chủ thẻ và ngân hàng, chủ thẻ có thể được sử dụng quá số dư trên tài khoản thông qua hình thức thấu chi.4 Theo phạm vi lãnh thổ Thẻ nội địa Là thẻ được sử dụng trong phạm vi một quốc gia và đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ của nước đó. Thẻ nội địa được sử dụng để rút tiền mặt, thanh toán hàng hóa dịch vụ, chuyển khoản và một số dịch vụ khác.
Thẻ quốc tế Là loại thẻ có thể sử dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới và thường sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán. Do phạm vi hoạt động trên toàn cầu nên quy trình hoạt động, kiểm soát và thủ tục yêu cầu phức tạp hơn so với thẻ nội địa.5 Lợi ích của thẻ Từ năm 2001 đến nay, tỷ trọng tiền mặt được sử dụng trong thanh toán so với tổng phương tiện thanh toán năm 2001 là 23,7%; năm 2004 là 20,3%; năm 2005 là 19%; năm 2006 là 17,21%, năm 2007 là 16,36%, năm 2008 là 14,6%;đến năm 2010 giảm dưới 10%, tuy tỷ trọng hàng năm đã giảm nhưng còn ở mức cao hơn so với thế giới; tỷ trọng này ở các nước tiên tiến hiện nay như Thụy Điển là 0,7%, Na Uy là 1%, còn Trung Quốc là nước phát triển trung bình nhưng cũng chỉ ở mức là 10%.1Đối với ngƣời sử dụng thẻ Đem lại sự tiết kiệm thời gian cho chủ thẻ : Tiết kiệm thời gian trong thời đại công nghiệp hiện nay là lý do chính đáng để người ta sử dụng thẻ thanh toán. Giúp chủ thẻ đỡ mất thời gian phải đến ngân hàng giao dịch, rút tiền, không phải chờ lâu khi kiểm đếm … Đem lại sự an toàn trong chi tiêu : Chiếc thẻ nhỏ gọn đem lại sự an tâm cho khách hàng khi không phải đem theo một số tiền lớn, như vậy tránh khỏi rủi ro bị cướp giật. Công nghệ hiện đại của thẻ bảo vệ chủ thẻ không bị thiệt hại khi bị mất thẻ nếu thực hiện đúng các yêu cầu về an toàn và bảo mật.
Được hỗ trợ tín dụng và cung cấp hàng hóa chất lượng : Các khoản tín dụng qua thẻ thường là ngắn hạn nên thủ tục đơn giản, chủ thẻ có thể được phục vụ nhu cầu chi tiêu của mình trước khi có tiền thanh toán. Hơn nữa trong quá -Trang 7- trình mua hàng tại các cơ sở chấp nhận thẻ, nếu hàng đã mua không đạt chất lượng hoặc không đạt yêu cầu chủ thẻ có thể yêu cầu ngân hàng phát hành thẻ can thiệp.2 Đối với ngân hàng phát hành Góp phần tăng thu nhập cho ngân hàng : Thu phí dịch vụ liên quan đến hoạt động thẻ là nguồn thu luôn được các ngân hàng quan tâm. Có nhiều loại phí dịch vụ liên quan mà các thương hiệu thẻ có tiếng trên thế giới đã áp dụng như : thu phí phát hành thẻ, thu phí thường niên, phí cấp lại thẻ, phí rút tiền mặt tại các ATM của ngân hàng khác hệ thống… Giảm chi phí huy động vốn, tăng nguồn vốn cho ngân hàng : Lợi ích thiết thực nhất mà thẻ mang lại cho ngân hàng là việc tiết giảm chi phí huy động vốn vì lãi suất trả cho số dư tiền gửi thẻ thường rất thấp. Đây là mục tiêu hàng đầu của ngân hàng khi triển khai kinh doanh thẻ, thậm chí các ngân hàng sẵn sàng phát hành thẻ miễn phí để tận dụng nguồn vốn huy động giá rẻ này.
Các ĐVCNT tại ngân hàng cũng mở tài khoản tạo cho nguồn vốn của ngân hàng cũng tăng lên.