mở đầu cho sự du nhập của thẻ thanh toán vào VN. Sự liên kết này chủ yếu là nhằm phục vụ cho lượng khách du lịch quốc tế đang đến VN ngày càng nhiều. Sau NH Ngoại Thương, Sài Gòn Thương Tín cũng liên kết với trung tâm thanh toán thẻ Visa để làm đại lý thanh toán. Có lẽ chính sách mở cửa thông thoáng đã đem lại cho VN một bộ mặt kinh tế – xã hội nhiều triển vọng.
Các Trang 5 dự án đầu tư nước ngoài tăng từ số lượng đến quy mô, các định chế tài chính lớn đã chú ý đến VN và đi theo những tập đoàn này là các dịch vụ song hành trong đó thẻ thanh toán là không thể thiếu được. Năm 1995 cùng với NH Ngoại thương, NH Thương mại Cổ phần Á Châu, NH Liên doanh First-Vina-Bank và NH Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN được Thống đốc NH Nhà nước VN cho phép chính thức gia nhập tổ chức thẻ quốc tế Mastercard. Năm 1996 NH Ngoại thương chính thức là thành viên của tổ chức Visa International. Tiếp sau đó là NH Thương mại Cổ phần Á Châu, NH Công thương VN cũng lần lượt là thành viên chính thức của tổ chức Visa Card, trong đó NH Ngoại thương và NH Thương mại Cổ phần Á Châu thực hiện thanh toán trực tiếp với tổ chức này.
Cũng trong năm này NH Ngoại thương VN phát hành thí điểm thẻ đầu tiên, đồng thời Hội các NH thanh toán thẻ VN cũng được thành lập với bốn thành viên sáng lập gồm NH Ngoại thương, NH Thương mại Cổ phần Á Châu, NH Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu và First Vinabank. Hành lang pháp lý cho hoạt động thẻ lúc ấy chỉ là quyết định số 74 do Thống đốc NH Nhà nước ký ban hành ngày 10/4/1993, qui định “thể lệ tạm thời về phát hành và sử dụng thẻ thanh toán”. Việc ứng dụng thẻ ở VN vào thời điểm đó còn bị giới hạn rất nhiều về cơ sở pháp lý, điều kiện kinh tế, hạ tầng kỹ thuật… Trên cơ sở thỏa thuận của NH Nhà Nước, NH thương mại thí điểm phát hành thẻ tự xây dựng qui chế, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ, tức tính pháp lý chỉ dừng ở mức điều chỉnh “nội bộ” giữa NH phát hành và chủ thẻ. Thị trường thẻ năm 2006, 2007 trở lên sôi động vì VN đã bước vào sân chơi rộng là WTO, thị trường tài chính VN càng cạnh tranh quyết liệt hơn khi có thêm nhiều NH nước ngoài đầu tư vào đây và dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ATM là một loại “vũ khí” đắc lực để NH thâm nhập thị trường.
Hàng loạt sản phẩm thẻ thanh toán ra đời, mở ra một cuộc “so tài” phát hành thẻ giữa các NH trong nước. Đầu tiên là NH Trang 6 Thương mại Cổ phần Kỹ thương VN, NH này đã tung ra hàng loạt thẻ thanh toán, nổi trội là thẻ Fastaccess. Tiếp theo đó, NH Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã kết hợp cùng tổ chức Visa ra mắt thẻ thanh toán Quốc tế Sacom Visa Debit. Đây là phương tiện thanh toán năng động nhắm vào giới doanh nhân: chủ tài khoản có thể dùng thẻ để thanh toán trong và ngoài nước.3 Phân loại thẻ thanh toán 1.1 Căn cứ phạm vi sử dụng Thẻ nội địa: là thẻ được sử dụng để rút tiền, thanh toán, chuyển khoản cho các giao dịch thanh toán trong nước.
Thẻ quốc tế: là thẻ được sử dụng để rút tiền, thanh toán, chuyển khoản cho các giao dịch thanh toán nước ngoài.2 Căn cứ tính chất thanh toán Thẻ ghi nợ (debit card): là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi thanh toán (TGTT) của chủ thẻ tại NH. Thẻ ghi nợ có 2 loại cơ bản: - Thẻ ghi nợ on-line: là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch thanh toán bị khấu trừ ghi Nợ tài khoản TGTT của chủ thẻ cùng thời điểm thanh toán. - Thẻ ghi nợ off-line: là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch thanh toán được khấu trừ vào tài khoản TGTT của chủ thẻ sau thời điểm thanh toán một thời gian (thường là vài ngày). Thẻ tín dụng (credit card): là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với NH phát hành thẻ.
Thẻ trả trước (prepaid card): là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho NH phát hành thẻ. Thẻ này bao gồm: Thẻ trả Trang 7 trước xác định danh tính (thẻ trả trước định danh) và thẻ trả trước không xác định danh tính (thẻ trả trước vô danh). Thẻ giao dịch với máy ATM: là loại thẻ được sử dụng để thực hiện các giao dịch như rút tiền, nộp tiền, chuyển tiền tại các máy ATM hoặc ở NH.3 Căn cứ chủ thể phát hành Thẻ do NH phát hành: là loại thẻ được phát hành bởi các NH. Thẻ do tổ chức phi NH phát hành: là loại thẻ do các tổ chức quốc tế phát hành như: Dinner Club, Amex…loại thẻ này cũng được sử dụng thanh toán trên toàn cầu.4 Căn cứ đặc điểm kỹ thuật của thẻ Nếu căn cứ vào đặc điểm kỹ thuật thẻ được chia làm 3 loại: thẻ khắc chữ nổi, thẻ băng từ và thẻ thông minh.2 Những nhân tố ảnh hƣởng đến dịch vụ thẻ 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát hành của thẻ * Trình độ dân trí Trình độ nhận thức của người dân là yếu tố quan trọng để đánh giá sự phát triển của một xã hội.
Trình độ dân trí cao gắn với một nền kinh tế phát triển, biết phát minh, tiếp thu và ứng dụng được những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại nhất phục vụ nhu cầu cần thiết của con người. Vì vậy, khi trình độ dân trí phát triển chắc chắn người dân nước đó sẽ tiếp cận được với một phương tiện thanh toán nhanh chóng, hiệu quả và an toàn nhất và là một phương tiện thanh toán đa tiện ích, đó là thẻ. * Quy mô và phạm vi hoạt động của NH Trang 8 NH phát hành phải có một quy mô hoạt động rộng và uy tín cao không những tại thị trường trong nước mà trên cả thị trường quốc tế. Ngoài ra NH phải phấn đấu để trở thành thành viên chính thức của các tổ chức thẻ nổi tiếng trên thế giới, có một hệ thống các phương tiện cập nhật nhanh chóng, hiện đại và an toàn.
Được như vậy NH đó mới có thể cạnh tranh trên thị trường thẻ. * Môi trường pháp lý Môi trường pháp lý được xem là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thẻ. Một môi trường pháp lý hoàn thiện, chặt chẽ, đầy đủ, hiệu lực mới có thể đảm bảo đầy đủ quyền lợi của các bên tham gia vào quá trình phát hành thẻ.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thanh toán thẻ * Thu nhập của người dùng thẻ Thu nhập cao đồng nghĩa với mức sống cao hơn. Khi đó, nhu cầu du lịch, giải trí của con người cũng sẽ tăng cao.
Chính nhu cầu này làm cho người ta nghĩ đến việc thanh toán bằng thẻ, một phương thức nhanh chóng, tiện lợi hơn phương thức thanh toán tiền mặt truyền thống. * Trình độ kỹ thuật công nghệ của NH Thanh toán thẻ gắn liền với các máy móc thiết bị hiện đại. Nếu hệ thống máy móc này có trục trặc thì sẽ gây ra ách tắc trong toàn hệ thống. Vì vậy, đã đưa ra dịch vụ thẻ thì NH phải đảm bảo một công nghệ thanh toán hiện đại theo kịp công nghệ của thế giới.
Cùng với trình độ kỹ thuật cao thì việc vận hành, bảo dưỡng hệ thống máy móc, phương tiện phục vụ phát hành và thanh toán thẻ sẽ dễ dàng, tiết kiệm chi phí làm giảm giá thành, góp phần thu hút thêm nhiều khách hàng sử dụng. Trang 9 * Thói quen tiêu dùng của người dân Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thẻ. Thói quen tiêu dùng của người dân sẽ tạo ra một môi trường thanh toán cho thanh toán thẻ. Nếu như một thị trường mà người dân chỉ có thói quen tiêu dùng bằng tiền mặt sẽ không thể là một môi trường tốt để phát triển thị trường thẻ, chỉ khi mà việc thanh toán được thực hiện chủ yếu qua hệ thống NH thì thẻ thanh toán mới thực sự phát huy hết hiệu quả của nó.
* CSCNT Việc phát triển CSCNT đóng vai trò rất quan trọng trong nghiệp vụ thanh toán thẻ, là cầu nối của hoạt động thanh toán giữa NH và chủ thẻ. Việc phát triển đa dạng mạng lưới CSCNT có chất lượng sẽ tạo thuận lợi cho khách hàng khi thanh toán. Từ đó thẻ của NH này sẽ được người sử dụng tin dùng bởi khả năng thanh toán nhanh chóng và tiện lợi. * Các chính sách, biện pháp của Nhà nước Trong khi thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của mình Nhà nước vẫn có những chính sách cụ thể can thiệp có thể làm ảnh hưởng đến việc thanh toán bằng thẻ: ví dụ chi lương qua thẻ NH, qui định phí rút tiền nội mạng,… 1.3 Lợi ích việc sử dụng dịch vụ thẻ 1.1 Đối với chủ thẻ Thẻ tín dụng là hình thức khách hàng được ứng trước để sử dụng sau đó một khoảng thời gian mới phải thanh toán.
Khách hàng không phải thực hiện nhiều thủ tục như cho vay. Khác với cho vay thông thường khi đến hạn khách hàng phải thanh toán hết một lần thì thẻ tín dụng cho phép khách hàng có thể thanh toán một lượng tối thiểu hoặc có thể thanh toán hơn hạn mức này mà không phải chịu một khoản phạt nào từ NH. Trang 10 Sử dụng thẻ giúp khách hàng tránh mang theo lượng tiền mặt lớn dễ gây mất mát và khó bảo quản. Chưa kể đến việc rất bất tiện khi sử dụng tiền mặt khi tiêu dùng ở các nước khác nhau.
Việc dùng thẻ tín dụng hoặc thẻ thanh toán đảm bảo khả năng chi tiêu đa ngoại tệ, không bị lệ thuộc vào ngoại tệ của nước nào. Ngoài ra chúng ta còn có thể sử dụng thẻ để mua hàng hóa trên Internet. Trong vài giây chỉ cần nhấp chuột việc thanh toán diễn ra và hàng hóa có thể được giao tận nơi.2 Đối với CSCNT Thẻ thanh toán đáp ứng nhu cầu thanh toán nhanh chóng của khách hàng, do đó những CSCNT sẽ được lợi từ việc khách hàng gia tăng sử dụng hàng hóa, dịch vụ do những tiện ích từ thẻ. Tạo cơ hội mở rộng thị trường bán hàng cho người bán.