phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng : Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển sản phẩm dịch vụ phi tín dụng trong ngân hàng. Thực trạng phát triển các dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần ACB – Chi nhánh Thăng Long. Giải pháp phát triển các dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần ACB – Chi nhánh Thăng Long.
4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1. Khái niệm Luật các TCTD của Việt Nam không đƣa ra một khái niệm cụ thể hoặc giải thích từ ngữ với khái niệm dịch vụ ngân hàng mà chỉ đề cập đến thuật ngữ “hoạt động ngân hàng” - là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Theo đó, có thể hiểu hoạt động ngân hàng đƣợc chia theo 4 mảng lớn: huy động vốn; tín dụng; thanh toán và ngân quỹ; và các hoạt động khác.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn ở Việt Nam, đã có những quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng, nhƣng chung nhất dịch vụ ngân hàng là những công việc do ngân hàng thực hiện để tìm kiếm lợi nhuận. Đối với nền kinh tế, bản thân hoạt động của ngân hàng đƣợc coi là một ngành dịch vụ. Trong bản thân ngành ngân hàng các hoạt động kinh doanh đƣợc phân biệt thành hai loại cơ bản: - Kinh doanh tiền tệ: chủ yếu là hoạt động huy động vốn và cho vay. - Dịch vụ ngân hàng: là các hoạt động ngoài hai hoạt động trên.
Đặc điểm dịch vụ ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng có đặc điểm là không hiện hữu. Nó không tồn tại dƣới dạng vật thể, nó là kết quả của một quá trình chứ không phải là một cái gì cụ thể có thể nhìn thấy. Tuy nhiên, nó cũng đƣợc biểu lộ thông qua một yếu tố vật chất nào đó, đó chính là phƣơng tiện chuyển giao dịch vụ cho khách hàng nhƣ: địa điểm cung ứng dịch vụ, thái độ và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên giao dịch, thời gian xử lý giao dịch.
Dịch vụ ngân hàng có tính không ổn định và khó xác định chất lƣợng: 5 Nó mang tính cá biệt hóa trong cung ứng và tiêu dùng dịch vụ, phụ thuộc vào ngƣời cung ứng dịch vụ, ngƣời tiêu dùng dịch vụ và thời điểm thực hiện dịch vụ. Để thỏa mãn tốt nhất với khách hàng, việc thực hiện nghĩa vụ ngân hàng phải đƣợc tiến hành cá biệt hóa dựa vào việc hiểu rõ những mong muốn của mỗi khách hàng cá biệt. Dịch vụ ngân hàng có đặc tính không tách rời giữa quá trình tiêu dùng và quá trình sản xuất cung ứng dịch vụ: việc tiêu dùng dịch vụ ngân hàng diễn ra cùng lúc với quá trình cung ứng dịch vụ, có sự tham gia trực tiếp của khách hàng ở bất cứ thời điểm nào khi khách hàng cần tới. Vì vậy, đảm bảo cung ứng dịch vụ ngân hàng ở mọi thời điểm và xem trọng yếu tố khách hàng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là hết sức quan trọng.
Kết quả của dịch vụ đều bị ảnh hƣởng từ hai phía: ngân hàng và khách hàng. Do đó, để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, ngân hàng không chỉ quan tâm tới việc đảm bảo khả năng và kỹ thuật của ngân hàng trong cung ứng dịch vụ, đào tạo nhân viên trong phong cách phục vụ khách hàng và thao tác kỹ năng nghiệp vụ mà còn phải làm cho khách hàng hiểu rõ tính phức tạp của dịch vụ ngân hàng và có thái độ sẵn sàng phối hợp với nhân viên ngân hàng hoàn tất các quá trình cung ứng và sử dụng dịch vụ. Dịch vụ ngân hàng là những sản phẩm không lƣu trữ đƣợc: Dịch vụ ngân hàng không thể sản xuất sẵn và lƣu kho nhƣ các sản phẩm thông thƣờng khác. Vì vậy, một sản phẩm ngân hàng không đƣợc cung ứng đúng thời điểm sẽ là một sản phẩm “hỏng”.
Đó là lý do tại sao cần phải điều chỉnh đúng nhịp độ cung ứng theo kịp nhịp độ mua, chẳng hạn nhƣ: rút ngắn quy trình xử lý nghiệp vụ, trang bị máy móc hiện đại có khả năng rút ngắn thời gian thực hiện một giao dịch, tăng cƣờng nhân viên cung ứng tại giờ cao điểm, kéo dài thời gian cung ứng… Dịch vụ ngân hàng dễ bị sao chép: nếu ngân hàng vừa tổ chức thực hiện 6 một loại dịch vụ nào đó có hiệu quả thì ngay lập tức các ngân hàng khác có thể thực hiện ngay các dịch vụ đó nếu họ muốn. Dịch vụ ngân hàng mang tính hỗ trợ cao, có mối liên hệ chặt chẽ. Các dịch vụ ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Sự ra đời và phát triển của dịch vụ này là cơ sở để có sự ra đời và phát triển của dịch vụ kia và ngƣợc lại.
Ngân hàng không thể phát triển dịch vụ tín dụng mà không đẩy mạnh dịch vụ thanh toán, phát triển dịch vụ thanh toán không thể không phát triển dịch vụ mua bán ngoại tệ. Các mối quan hệ chặt chẽ này đã tạo ra một hệ thống hỗ trợ giữa các dịch vụ trong sự phát triển các dịch vụ ngân hàng. Dịch vụ mang lại thu nhập cho ngân hàng thông qua phí dịch vụ. Thu nhập của ngân hàng hình thành từ phí dịch vụ nói chung, có những dịch vụ làm tăng thu nhập của ngân hàng một cách trực tiếp nhƣ: Lãi cho vay, phí mua bán ngoại tệ, phí chuyển tiền, phí mở và thanh toán L/C… Tuy nhiên, cũng có dịch vụ mà ngân hàng không thu từ khách hàng mà chỉ thông qua dịch vụ đó để lôi kéo khách hàng, tăng sức cạnh tranh với các ngân hàng khác hoặc thông qua các dịch vụ đó làm tăng thu nhập từ các dịch vụ khác.
Nắm đƣợc các đặc điểm trên của dịch vụ, ngân hàng có thể khai thác, đa dạng hóa dịch vụ của mình. Từ đó có thể làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế. Ý nghĩa của sản phẩm dịch vụ trong hoạt động ngân hàng Sự phát triển của dịch vụ ngân hàng là một tín hiệu cho thấy trình độ phát triển của một quốc gia. Phát triển dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa cực kỳ to lớn không những đối với bản thân ngân hàng mà còn đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc dân, thể hiện qua các khía cạnh sau: 1.
Ý nghĩa kinh tế xã hội: - Góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển: 7 Hoạt động dịch vụ ngân hàng đã tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành trôi chảy nhịp nhàng, thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế, góp phần đẩy nhanh tốc độ sản xuất, luân chuyển hàng hoá. Dịch vụ của ngân hàng góp phần tích cực trong việc mang lại lợi ích cho nền kinh tế, cho khách hàng và cho ngân hàng thông qua việc giảm chi phí nhờ sự tiện ích và sự chuyên môn hóa của từng dịch vụ, giảm chi phí kiểm đếm, bảo quản, vận chuyển tiền, cũng nhƣ tiết kiệm nhân lực để thực hiện. Ngoài ra, chi phí dịch vụ ngân hàng mà khách hàng phải trả thƣờng thấp so với giá trị tài sản hoặc thấp hơn so với trong trƣờng hợp khách hàng phải đầu tƣ phƣơng tiện để bảo quản tại nhà, khi thực hiện quản lý hộ, giữ hộ… Hơn nữa, khách hàng có cơ hội lựa chọn sản phẩm dịch vụ có lợi nhất, hiệu quả nhất. Dịch vụ ngân hàng tạo điều kiện cho các ngành dịch vụ khác phát triển.
Do đặc điểm của dịch vụ ngân hàng liên quan sâu rộng đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống nên sự phát triển của dịch vụ ngân hàng nhƣ đầu tƣ, thanh toán, chuyển tiền gắn với các dịch vụ bƣu chính viễn thông, tƣ pháp, kế toán, kiểm toán, giao thông vận tải… Các dịch vụ khác trong nền kinh tế sẽ bị hạn chế nếu dịch vụ thanh toán không thông suốt. Dịch vụ ngân hàng thúc đẩy sản xuất phát triển, đóng góp vào tăng trƣởng GDP. Là những định chế trung gian tài chính, hệ thống TCTD huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để thực hiện đầu tƣ, cho vay các chủ thể sản xuất kinh doanh và đời sống. Trong điều kiện nền kinh tế nƣớc ta khi các kênh huy động vốn khác còn chƣa phát triển, hệ thống NHTM đã trở thành kênh cung cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế.
Thông qua dịch vụ cho vay, hệ thống NHTM giúp cho các doanh nghiệp chuyển đổi cơ cấu sản xuất, dịch chuyển vốn đầu tƣ, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, tăng năng lực sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, nhất là trong giai 8 đoạn hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Nhƣ vậy, thông qua hoạt động dịch vụ ngân hàng thực hiện quá trình luân chuyển vốn cho nền kinh tế khai thác và sử dụng. - Là cơ sở thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển: Dịch vụ ngân hàng thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo xu hƣớng nền kinh tế tri thức. Dịch vụ ngân hàng ngày càng sử dụng nhiều thành tựu của công nghệ thông tin nhƣ trang bị máy vi tính thế hệ mới, kết nối hệ thống thanh toán qua mạng viễn thông.
Hiện nay, các dịch vụ ngân hàng đang phát triển nhƣ thẻ, internet banking, sms banking… đƣợc thực hiện trên nền công nghệ cao. Do vậy đòi hỏi ngƣời cung cấp dịch vụ và khách hàng phải có am hiểu nhất định mới có thể sử dụng và vận hành, nhiều trong số dịch vụ này tạo ra giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế, đây là một đặc điểm của nền kinh tế tri thức. Ý nghĩa đối với NHTM Thông qua các dịch vụ ngân hàng, các NHTM xây dựng đƣợc thƣơng hiệu. Thực tế đã chứng minh vai trò của việc phát triển thƣơng hiệu trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ tài chính đặc biệt là dịch vụ ngân hàng.
Khi thị trƣờng tài chính phát triển và cạnh tranh khốc liệt nhƣ hiện nay thì thƣơng hiệu sẽ là nhân tố mang tính quyết định trong việc lựa chọn ngân hàng để gắn bó đối với bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào trong nền kinh tế. Vì vậy, các NHTM VN cần xây dựng thƣơng hiệu của ngân hàng mình phải có điểm khác biệt, độ nhận diện cao, và đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng. Mục tiêu hàng đầu của bất cứ một NHTM nào là lợi nhuận.