Chương 1: Ngân hàng thương mại và phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng thương mại. - Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Hải Dương. - Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Hải Dương. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Tổng quan về Ngân hàng thương mại và các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại 1. Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng của nền kinh tế. Ngân hàng là người đi vay để cho vay chủ yếu đối với hàng triệu người tiêu dùng bao gồm các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp và cả các cơ quan chính phủ.
Đồng thời ngân hàng cũng là trung gian thanh toán và cung cấp các dịch vụ cho các khách hàng của mình. Ngân hàng xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng hơn 2000 năm trước đây ở Hy Lạp với một mục đích là những người chuyên đổi tiền cho khách du lịch và chiết khấu thương phiếu giúp các nhà buôn có vốn kinh doanh. Các ngân hàng đầu tiên có thể dùng vốn tự có để tài trợ cho các hoạt động của họ trước khi có ý tưởng thu hút vốn tiền gửi và cho vay ngắn hạn đối với những nhà buôn và chủ tàu. Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại.
Theo Peter Rose thì “ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” Như vậy để đưa ra định nghĩa về ngân hàng Peter Rose đã đưa ra khái niệm xem xét những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Theo Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) thì “ Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của 6 công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Một định nghĩa khác về ngân hàng căn cứ vào sự kết hợp của đối tượng hoạt động như Luật Ngân hàng của Đan Mạch (1930) :” Ngân hàng là những nhà băng hiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm…” Ở Việt Nam có khá nhiều định nghĩa về ngân hàng, năm 1988 ngân hàng Việt Nam được chia làm hai cấp là Ngân hàng Nhà nước và hệ thống Ngân hàng thương mại và khi đó định nghĩa Ngân hàng thương mại đơn giản chỉ là các ngân hàng thực hiện cho vay theo kế hoạch của nhà nước trong việc phát triển nền kinh tế. Theo Luật NHNN và các TCTD được quốc hội thông qua năm 2011 quy định mô hình NHTM ở Việt Nam là mô hình “NHTM đa năng hạn chế”, theo đó các NHTM được thực hiện các hoạt động ngân hàng truyền thống (như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán) và tùy theo mức độ rủi ro thị trường của từng nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, các NHTM được phép trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua công ty con, công ty liên kết) thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư (Điều 103).
Như vậy ngân hàng thương mại là một hình thức doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Chính vì thế, mọi hoạt động của ngân hàng đều ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế cũng như mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Các loại hình ngân hàng thương mại Dựa vào hình thức sở hữu có thể phân loại như sau: - Ngân hàng thương mại quốc doanh: Là những ngân hàng thuộc sở hữu 100% vốn nhà nước ngoài thực hiện vai trò kinh doanh như một NHTM khác 7 và còn thực hiện các chức năng phân phối vốn đầu tư kinh doanh cho nhà nước, tiếp nhận và cung ứng vốn tài trợ từ các dự án quốc tế. - Ngân hàng thương mại cổ phần: Là những ngân hàng thuộc sở hữu của một phần của nhà nước hoặc của các tổ chức kinh tế trong nước, phần còn lại được bán cho các nhà đầu tư khác.
- Ngân hàng liên doanh: Là những ngân hàng thuộc sở hữu của các tổ chức kinh tế trong nước và đối tác nước ngoài - Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: Là những ngân hàng sở hữu của các tổ chức kinh tế nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. - Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam: Là các chi nhánh ngân hàng, các định chế tài chính lớn của nước ngoài tại Việt Nam. Dựa vào chiến lược kinh doanh có thể phân thành: - Ngân hàng bán buôn: Là ngân hàng tập trung cung cấp một vài sản phẩm cho các khách là doanh nghiệp lớn, tập đoàn kinh tế, các tổng công ty…với số lượng giao dịch không lớn nhưng giá trị giao dịch cao. - Ngân hàng bán lẻ: Là ngân hàng chú trọng việc đa dạng hóa các sản phẩm để cung ứng cho cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Ngân hàng vừa bán buôn, vừa bán lẻ: Là dạng ngân hàng bao gồm cả hai hoạt động trên. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động Huy động vốn Ngoài nguồn vốn tự có của mình ra thì nguồn vốn huy động được là một phần vốn quan trọng của ngân hàng. Có huy động được vốn thì ngân hàng mới tạo ra được nhiều nguồn vốn cho các hoạt động như cho vay, đầu tư và hợp tác kinh doanh của mình.
Trong hoạt động này ngân hàng thương mại sử dụng nhiều các công cụ và biện pháp khác nhau để huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của công chúng và doanh nghiệp làm nguồn vốn để thực 8 hiện cho vay lại đối với nền kinh tế. Để thực hiện nghiệp vụ này ngân hàng thương mại sử dụng các hình thức như: - Nhận tiền gửi của các tổ chức các nhân, tổ chức và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác. - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. - Vay vốn ngắn hạn của các tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nước.
- Vay ngắn hạn Ngân hàng nhà nước. - Các hình thức huy động khác theo quy định của Nhà nước Việt Nam. Hoạt động tín dụng Nếu huy động vốn tạo nên nguồn vốn để ngân hàng có thể hoạt động thì hoạt động tín lại là hoạt động tạo nên tài sản có và có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho các tổ chức và cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại gồm: - Cho vay dài hạn - Cho vay ngắn hạn và trung hạn. - Chiết khấu và cầm cố các giấy tờ có giá. - Hoạt động bảo lãnh. - Cho thuê tài chính.
Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Để đáp ứng nhu cầu thanh toán giữa các doanh nghiệp và có nhân, các ngân hàng thương mại thực hiện việc mở tài khoản cho khách hàng và thực hiện thanh toán qua các tài khoản đó. Các hoạt động thanh toán và ngân quỹ bao gồm: 9 - Dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng. - Dich vụ thanh toán quốc tế và chuyển tiền ra nước ngoài. - Dịch vụ cho thuê két sắt.
- Dịch vụ thực hiện thu hộ, chi hộ cho các cá nhân và tổ chức. - Các sản phẩm khác như ngân hàng điện tử, tư vấn tài chính, thanh toán séc…. Các hoạt động khác. Ngoài các hoạt động trên ngân hàng thương mại còn thực hiện các dịch vụ khác, bao gồm: - Góp vốn đầu tư mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác.
- Tham gia thị trường tiền tệ. - Hoạt động ủy thác và đại lý liên quan đến hoạt động ngân hàng như quản lý tài sản, góp vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng. - Hoạt động kinh doanh chứng khoán. - Dịch vụ kinh doanh bảo hiểm.
Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ (NHBL) Trong những năm gần đây cùng với sự bùng nổ của hệ thống ngân hàng và sự tham gia thị trường tài chính của nhiều đối tượng khác, dịch vụ ngân hàng cũng đã từng bước thay đổi theo nhu cầu của thị trường. Trước đây hầu hết các ngân hàng thương mại của Việt Nam được thành lập và hoạt động để cho vay các doanh nghiệp nhà nước lớn theo sự chỉ định của Nhà nước.
Địa điểm giao dịch là các trụ sở ngân hàng trong khung giờ xác định, bị bó hẹp và theo kế hoạch. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, mối quan hệ kinh tế trở lên phức tạp hơn, những yêu cầu cứng nhắc về thời gian, địa điểm dịch vụ ngân hàng cần được thay đổi linh hoạt đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng. Rồi cùng với sự cạnh tranh của các ngân hàng với nhau nên 10 khách hàng của ngân hàng cũng ngày một thay đổi từ trước đây chỉ phục vụ các khách hàng doanh nghiệp lớn thì đến nay các ngân hàng hướng đến phục vụ tất các nhu cầu của khách hàng trong nền kinh tế như doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, khách hàng cá nhân có nhu cầu. Vì vậy, thuật ngữ dịch vụ NHBL ra đời và ngày càng được các ngân hàng quan tâm phát triển.
Thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ” xuất phát từ từ gốc trong tiếng Anh là “retail banking”.