phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài đƣợc trình bày theo 03 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển dịch vụ bán lẻ tại các ngân hàng thƣơng mại trong điều kiện hội nhập. Chƣơng 2: Thực trạng về phát triển dịch vụ bán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Phúc Yên. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ bán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên. Phạm Thị Hồng Hà- QTKD 2012A 4 LUẬN VĂN THẠC SỸ Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BÁN LẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRONG HỘI NHẬP 1 CÁC HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.1 Khái niệm, đặc trƣng dịch vụ bán lẻ của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm dịch vụ bán lẻ của ngân hàng thƣơng mại 1.
Ngân hàng thƣơng mại (NHTM): Có nhiều cách khái niệm ngân hàng thƣơng mại song nhìn chung mọi quốc gia đều thống nhất định nghĩa: Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. NHTM cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế, đặc biệt là dịch vụ tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán. Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng đƣợc Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 11/12/1997 và đƣợc sửa đổi năm 2004 quy định “Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán” và “ngân hàng thƣơng mại là một loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”. Nhƣ vậy, ngân hàng thƣơng mại là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại là phục vụ các doanh nghiệp, các cá nhân thông qua các dịch vụ của mình. Dịch vụ ngân hàng: Vậy chúng ta hiểu dịch vụ ngân hàng là gì? Trƣớc hết cần làm rõ thuật ngữ “Dịch vụ”. Cho đến nay, vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ, tính đa dạng, phức tạp, vô hình (phi vật chất) của các loại hình dịch vụ đã làm cho việc Phạm Thị Hồng Hà- QTKD 2012A 5 LUẬN VĂN THẠC SỸ thống nhất về khái niệm dịch vụ trở nên khó khăn. Không chỉ ở nƣớc ta mà trên thế giới, mỗi quốc gia đều có những cách hiểu về dịch vụ khác nhau.
Vì thế hiệp định chung về thƣơng mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO cũng không nêu khái niệm về dịch vụ mà thay vào đó là sự liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn gồm 155 phân ngành. Ở Việt Nam, từ điển bách khoa Việt Nam giải thích: dịch vụ là các hoạt động phục vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Vậy dịch vụ ngân hàng đƣợc khái niệm nhƣ thế nào? Theo WTO, dịch vụ ngân hàng đƣợc đặt trong nội hàm của dịch vụ tài chính, với cách đó việc không tách bạch rạch ròi đƣợc đâu là dịch vụ ngân hàng đã làm phát sinh những khó khăn trong việc xác định những dịch vụ ngân hàng thuần tuý. Ở nƣớc ta, đến nay chƣa có sự minh định rõ ràng về khái niệm dịch vụ ngân hàng.
Có không ít quan niệm cho rằng: dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của một trung gian tài chính (cho vay, huy động tiền gửi…), chỉ những hoạt động không thuộc nội dung nói trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng (nhƣ chuyển tiền, thu uỷ thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh chứng khoán,…). Một số lại cho rằng tất cả hoạt động ngân hàng phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng đều là dịch vụ ngân hàng. Theo quan niệm này, toàn bộ các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… của hệ thống ngân hàng đều là hoạt động cung ứng cho nền kinh tế. Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và của hiệp định thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kì cũng nhƣ nhiều nƣớc phát triển.
Vậy, dịch vụ ngân hàng là toàn bộ các hoạt động ngân hàng phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng. Các sản phẩm dịch vụ chủ yếu của NHTM đƣợc thể hiện ở nội dung các khoản mục thuộc bảng tổng kết tài sản hay bảng cân đối kế toán của ngân hàng và có thể phân chúng thành ba nhóm, đó là: Nhóm 1: Các sản phẩm huy động vốn- tiền gửi (thuộc nghiệp vụ tài sản nợ): phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng Phạm Thị Hồng Hà- QTKD 2012A 6 LUẬN VĂN THẠC SỸ mại, bao gồm sản phẩm nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, đi vay và huy động khác. Nhóm 2: Các sản phẩm cho vay và đầu tƣ (thuộc nghiệp vụ tài sản có): phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm tìm kiếm lợi nhuận cũng nhƣ đảm bảo an toàn của NHTM, bao gồm dịch vụ ngân quỹ, tín dụng, đầu tƣ tài chính, và các sản phẩm dịch vụ khác. Nhóm 3: Các sản phẩm dịch vụ trung gian: Là các sản phẩm mà ngân hàng thƣơng mại cung ứng cho khách hàng để nhận phí, hoa hồng đó là sản phẩm dịch vụ về thanh toán và các sản phẩm dịch vụ khác theo yêu cầu hay ủy nhiệm của khách hàng.
Tóm lại ba nhóm sản phẩm này là một thể thống nhất có quan hệ mật thiết với nhau, tác động hỗ trợ nhau, coi nhẹ nghiệp vụ nào cũng đều làm cho NHTM không phát huy hết sức mạnh tổng hợp và khó tạo ra vị thế trong cạnh tranh đối với NHTM khác. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ: Theo các chuyên gia kinh tế của học viện Công nghệ Châu Á – AIT: “Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ ( DVNHBL)là toàn bộ các hoạt động cung ứng các sản phẩm dịch vụ tài chính tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Trong nền kinh tế mở, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng ngày càng cao, nhất là dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Mục tiêu của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là các khách hàng cá nhân nên các dịch vụ thƣờng đơn giản, dễ thực hiện và thƣờng xuyên, tập trung vào dịch vụ tiền gửi và tài khoản, vay vốn, mở thẻ tín dụng… Từ giác độ kinh tế - xã hội, dịch vụ ngân hàng bán lẻ có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế đồng thời giúp cải thiện đời sống dân cƣ, hạn chế thanh toán tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả khách hàng và ngân hàng.
Ƣu điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ: Phạm Thị Hồng Hà- QTKD 2012A 7 LUẬN VĂN THẠC SỸ - Đem lại doanh thu cao, chắc chắn, ít rủi ro. - Đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ phi ngân hàng - Mở rộng khả năng mua bán chéo giữa cá nhân và doanh nghiệp với ngân hàng thƣơng mại, từ đó gia tăng và phát triển màng lƣới khách hàng hiện tại và tiềm năng của ngân hàng thƣơng mại. Đặc trƣng của dịch vụ bán lẻ tại các ngân hàng thƣơng mại: Dịch vụ bán lẻ tại các ngân hàng thƣơng mại hay còn gọi là dịch vụ ngân hàng bán lẻ mang đặc trƣng chung của dịch vụ ngân hàng, đó là: 1. Tính đa dạng, phức tạp: Do khách hàng sử dụng sản phẩm của NHTM là những tổ chức kinh tế, những doanh nghiệp lớn, những doanh nghiệp vừa và nhỏ, khả năng kinh doanh tốt hay xấu, kết quả kinh doanh, năng lực tài chính mạnh hay yếu,…và những khách hàng cá nhân có những đặc điểm khác nhau về thu nhập, chi tiêu tài chính, trình độ dân trí, tâm lý xã hội, tập quán,…do đó nhu cầu về sản phẩm dịch vụ NHTM là khác nhau.
Để thích ứng với đặc điểm này NHTM đã phát triển nhiều sản phẩm dịch vụ khác nhau từ các sản phẩm dịch vụ truyền thống tới các dịch vụ mới hiện đại. Đặc điểm này chính là cơ hội phát triển thị trƣờng nhƣng đồng thời cũng chính là những khó khăn thử thách đối với NHTM trong việc xử lý và áp dụng công nghệ nhằm thoả mãn yêu cầu riêng biệt của từng nhóm khách hàng.Tính phụ thuộc: Quá trình thực hiện các dịch vụ ngân hàng bán lẻ hoàn toàn phụ thuộc vào khách hàng. Các sản phẩm ngân hàng có tính phi vật chất, không thể dự trữ, không thể tồn kho để khi thị trƣờng cần thì đƣa ra tiêu thụ nhƣ hàng hoá hữu hình, sản phẩm dịch vụ ngân hàng chỉ bắt đầu khi khách hàng chuyển đến ngân hàng các lệnh, các uỷ nhiệm của họ phát sinh từ các hợp đồng giao dịch thƣơng mại, tín dụng hoặc phải hoàn thành một nghĩa vụ tài chính nào đó. Do vậy việc triển khai các dịch vụ ngân hàng phải quan tâm trƣớc hết là nhu cầu của khách hàng và phải xuất phát từ phía khách hàng.
Phạm Thị Hồng Hà- QTKD 2012A 8 LUẬN VĂN THẠC SỸ 1.Tính cạnh tranh: cạnh tranh về các sản phẩm dịch vụ bán lẻ giữa các ngân hàng là rất quyết liệt. Do ngân hàng thƣơng mại bị chi phối bởi đặc điểm dùng nguyên liệu chính là “tiền”, loại nguyên liệu có tính xã hội hoá và tính nhạy cảm cao nên chỉ cần sự thay đổi nhỏ về lãi suất (kể cả cho vay và huy động) cũng sẽ gây ra sự chuyển dịch của khách hàng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác. Tính nhạy cảm cao thể hiện rõ trong trƣờng hợp khi ngân hàng thƣơng mại này tạo ra sản phẩm đƣợc xã hội ƣa chuộng thì ngay lập tức các ngân hàng khác cũng tạo ra sản phẩm đó để cạnh tranh trong khi các doanh nghiệp để làm đƣợc việc này thì cần phải có khoảng thời gian dài mới có thể nghiên cứu để tạo ra sản phẩm mới.