phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục bao gồm ba chƣơng: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động cho vay khách hàng thể nhân tại Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển hoạt động cho vay khách hàng thể nhân tại Vietcombank Chi nhánh Hải Dƣơng. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển cho vay khách hàng thể nhân tại Vietcombank Chi nhánh Hải Dƣơng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG THỂ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Những vấn đề cơ bản về ngân hàng thƣơng mại 1. Ngân hàng thương mại và các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại a. Khái niệm Ngân hàng thương mại Thuật ngữ Ngân hàng (bank) ra đời gắn liền với hình ảnh những ngƣời gửi tiền xếp hàng dài trên những chiếc ghế băng (banco – theo tiếng Italia) chờ đƣợc gửi tiền. Khi nghiên cứu về NHTM các nhà kinh tế đã đƣa ra rất nhiều quan điểm khác nhau.
Có ý kiến cho rằng: “NHTM là tổ chức tài chính nhận tiền gửi và cho vay”, nhƣng có ý kiến lại cho rằng: “NHTM là trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở tài khoản tiền gửi, kể cả các tài khoản tiền gửi có thể dùng Sec”. Sở dĩ có nhiều quan điểm khác nhau về NHTM là do các nghiệp vụ của ngân hàng rất đa dạng, các thao tác của từng nghiệp vụ ngân hàng lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi chung của nền kinh tế. Mặt khác, do tập quán, luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi vùng là khác nhau đã dẫn đến những quan niệm khác nhau về NHTM. Tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng 2010 của Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2010: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Với sự phát triển của thế giới ngày nay, các NHTM đóng vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế mà còn là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trƣờng; giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế; đồng thời cũng là công cụ để nhà nƣớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững và ổn định.
Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trƣờng phát triển hoạt động NHTM cũng ngày càng phát triển và đa dạng dƣới nhiều hình thức khác nhau. Nhƣng dù ở bất kỳ hình thức nào thì NHTM đều hoạt động theo ba nhiệm vụ chính, đó là: Huy động vốn, sử dụng vốn và hoạt động trung gian. Hoạt động huy động vốn: Huy động vốn đóng vai trò quan trọng, ảnh hƣởng đến chất lƣợng hoạt động của ngân hàng. Mục tiêu của huy động vốn là tìm kiếm nguồn vốn ổn định với chi phí thấp nhất.
Huy động vốn của NHTM có các hình thức sau: -“Vốn chủ sở hữu: Để bắt đầu hoạt động ngân hàng chủ ngân hàng phải có một lƣợng vốn nhất định. Đây là số vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM, đó là nguồn tiền đƣợc đóng góp bởi những chủ ngân hàng bao gồm nhiều loại khác nhau và đƣợc phân thành vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Trong đó vốn cấp 1 đƣợc xem là sức mạnh và tiềm lực thực sự của ngân hàng; còn vốn cấp 2 đƣợc giới hạn tối đa bằng 100% vốn cấp 1.” - Vốn huy động từ tiền gửi: là lƣợng giá trị tiền tệ mà NHTM huy động đƣợc từ công chúng thông qua việc cung cấp sản phẩm – dịch vụ cho công chúng. - Vốn đi vay: Vay các NHTM, các TCTD khác, đây là nguồn vốn vay mƣợn lẫn nhau trên thị trƣờng liên ngân hàng.
- Nguồn vốn khác: loại này bao gồm nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán, các nguồn khác. Hoạt động sử dụng vốn: -“Hoạt động tín dụng: NHTM đƣợc cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dƣới các hình thức cho vay, chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN. Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.” + Cho vay: NHTM đƣợc cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dƣới các hình thức sau: Cho vay ngắn hạn và cho vay trung hạn, dài hạn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 +”Bảo lãnh: NHTM đƣợc bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và khả năng tài chính đối với ngƣời nhận bảo lãnh.” + Chiết khấu: NHTM đƣợc chiết khấu thƣơng phiếu và các GTCG ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thƣơng phiếu và các GTCG ngắn hạn khác đối với các TCTD khác.
+”Cho thuê tài chính: NHTM đƣợc hoạt động cho thuê tài chính nhƣng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính.” -“Hoạt động dịch vụ và ngân quỹ: Để thực hiện đƣợc các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, NHTM đƣợc mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nƣớc. Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua NHNN, NHTM phải mở tài khoản tiền gửi tại NHNN nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dƣ tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định.” Hoạt động khác: Ngoài các hoạt động chính là huy động tiền gửi, cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, NHTM còn có thể thực hiện một số hoạt động khác nhƣ: Góp vốn và mua cổ phần; tham gia thị trƣờng tiền tệ; ủy thác và nhận ủy thác; cung ứng dịch vụ bảo hiểm; tƣ vấn tài chính; bảo quản vật quý giá,… 1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Cho vay trong hoạt động ngân hàng là cam kết giữa ngân hàng và khách hàng, theo đó ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng một khoản vốn cùng các điều kiện đi kèm về giá trị khoản vốn, thời gian, lãi suất,… Cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động tín dụng của NHTM.
Đây là hoạt động sinh lời cao nhất song đi kèm là rủi ro đem lại cũng cao nhất cho NHTM. Vì vậy để hoạt động cho vay đạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 chất lƣợng thì các NHTM thƣờng đƣa ra một quy trình cho vay hết sức chặt chẽ. Rủi ro từ cho vay có rất nhiều nguyên nhân và đều có thể gây ra tổn thất, làm giảm thu nhập của ngân hàng. Do vậy các NHTM thƣờng cân nhắc rất kỹ lƣỡng, đồng thời ƣớc lƣợng khả năng rủi ro và sinh lời trƣớc khi quyết định cho vay.
Tiền cho vay là một món nợ đối với cá nhân hay doanh nghiệp đi vay nhƣng lại là một tài sản đối với ngân hàng. So sánh với các tài sản khác khoản mục cho vay có tính lỏng kém hơn vì thông thƣờng chúng không thể chuyển thành tiền mặt trƣớc khi các khoản cho vay đó đến hạn thanh toán. Khi một khoản vay đƣợc NHTM cấp cho ngƣời vay thì ngƣời vay mới là bên chủ động: có thể trả ngân hàng tiền vay trƣớc hạn, đúng hạn thậm chí có thể xin gia hạn thêm thời gian trả nợ. Còn các NHTM chỉ đƣợc phép quản lý các khoản vay đó tuân theo hợp đồng đã ký, ngân hàng phải thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký trừ khi có những sai phạm của khách hàng khi thực hiện hợp đồng.
Vai trò của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận lớn cho Ngân hàng và thúc đẩy các hoạt động khác của Ngân hàng: Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động chiếm tỷ trọng lớn của Ngân hàng. Mặt khác, nhờ có hoạt động cho vay, mà các đơn vị kinh tế có thể vay của Ngân hàng để đầu tƣ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận thu đƣợc không những doanh nghiệp đủ tiền trả cho ngân hàng mà còn có tiền gửi vào ngân hàng, nghĩa là làm tăng hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Mặt khác khi sản xuất kinh doanh phát triển, xã hội phát triển thì các hoạt động dịch vụ của ngân hàng cũng sẽ phát triển.” Hoạt động cho vay góp phần điều hoà cung - cầu dịch vụ hàng hoá: “Doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh, hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh mà thiếu vốn thì doanh nghiệp phải vay vốn của ngân hàng. Nhƣng doanh nghiệp chỉ thu đƣợc lợi nhuận cũng nhƣ có khả năng trả nợ ngân hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 khi doanh nghiệp tiêu thụ đƣợc hết số sản phẩm hàng hoá đã sản xuất ra, hay phải có một bộ phận những ngƣời tiêu dùng mua và có khả năng mua sản phẩm đó.
Về phía ngƣời tiêu dùng, với một mức thu nhập nhất định, họ không thể có đủ số tiền để mua hàng hoá mình muốn. Họ chỉ có đủ khả năng mua sau một thời gian dài tích luỹ. Đó là nguyên nhân dẫn đến chu kì tuần hoàn và luân chuyển vốn của doanh nghiệp bị ngƣng trệ. Doanh nghiệp sẽ không thu hồi đủ tiền để thực hiện vòng quay sản xuất.
Do đó ngân hàng cho vay là giải pháp có lợi cho cả đôi bên. Ngân hàng cho doanh nghiệp vay sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thì sẽ có nhiều hàng hoá. Ngân hàng cho ngƣời tiêu dùng vay sẽ thoả mãn nhu cầu hàng hoá. Nhƣ vậy hoạt động cho vay của ngân hàng đã góp phần điều hoà cung cầu sản phẩm hàng hoá dịch vụ cho nền kinh tế.” Hoạt động cho vay góp phần điều tiết và phân phối các nguồn vốn: “Vốn sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế vận động liên tục và biểu hiện qua các hình thức khác nhau qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, tạo thành chu kì tuần hoàn và luân chuyển vốn, điểm xuất phát và kết thúc của một vòng tuần hoàn này thể hiện dƣới dạng tiền tệ.