Đặt vấn đề Tràng Định là huyện miền núi, biên giới của tỉnh Lạng Sơn có địa hình chủ yếu là đồi núi, vì vậy diện tích đất dành cho phát triển lâm nghiệp tương đối lớn, diện tích đất quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp trên 85 nghìn ha, chiếm trên 83% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện. Diện tích đất lâm nghiệp lớn là một điều kiệu hết sức cần thiết để thúc đẩy các hoạt động sản xuất, thu hút vốn đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp, tạo ra tiềm năng lớn trong việc phát triển kinh tế lâm nghiệp của huyện nhà trong những năm tới đây. Đối với rừng tự nhiên tổ thành loài cây tự nhiên chủ yếu là sau sau, thành ngạnh, bồ đề, sơn ta, chẹo tía và các loài cây gỗ không có giá trị, Đối với núi đá tổ thành loài chủ yếu là si, mề gà, kháo, sảng nhung, nhãn rừng, cây tạp khác. Hiện trạng rừng hiện tại chủ yếu là cây tái sinh rừng nghèo kiệt.
Phần lớn diện tích rừng trồng là cây Hồi, Quế và một số loại cây Keo, bạch đàn, thông, lát. Quế là loài cây có nhiều giá trị về nhiều mặt. Đã được trồng ở nhiều nơi, đã mang lại lợi ích to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường cho người dân trên nhiều vùng ở nước ta. Ngoài lợi ích về mặt kinh tế, cây Quế còn đóng góp vào bảo vệ môi trường sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nước ở các vùng đất đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý cây bản địa - cây Quế còn đóng góp vào định canh - định cư, xoá đói giảm nghèo tạo thêm công ăn việc làm cho nông dân miền núi nước ta.
Quế được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, vỏ Quế được mài ra trong nước đun sôi để nguội để uống, hoặc trong các bài thuốc có Quế để chữa một số bệnh đường tiêu hoá, đường hô hấp, kích thích sự tuần hoàn của máu, lưu thông thuyết mạch, làm cho cơ thể ấm lên. Chống lại giá lạnh và có tính chất sát trùng. Quế được nhân dân coi 1 như một trong bốn vị thuốc rất có giá trị: Sâm, Nhung, Quế (Lê Trần Đức, 1983 “Cây thuốc Việt Nam” ) Nhục Quế vị ngọt cay tính nóng, thông huyết mạch, làm mạnh tim, tăng sức nóng, chữa các chứng trúng 2 hàn, hôn mê, mạch chạy chậm, nhỏ, tim yếu (truỵ mạch, huyết áp hạ) và bệnh dịch tả nguy cấp…”). Quế được sử dụng một khối lượng lớn để làm gia vị vì Quế có vị thơm, cay và ngọt có thể khử bớt được mùi tanh, gây của cá, thịt, làm cho các món ăn hấp dẫn hơn, kích thích được tiêu hoá.
Quế còn được sử dụng trong các loại bánh kẹo, rượu: như bánh Quế, kẹo Quế, rượu Quế được sản xuất và bán rất rộng rãi. Quế được sử dụng làm hương vị, bột Quế được trộn với các vật liệu khác để làm hương khi đốt lên có mùi thơm được sử dụng nhiều trong các lễ hội, đền chùa, thờ cúng trong nhiều nước Châu Á nhất là các nước có đạo phật, đạo Khổng Tử, đạo Hồi. Gần đây nhiều địa phương còn sử dụng gỗ Quế, vỏ Quế để làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như bộ Khay, ấm, chén bằng vỏ Quế, đĩa Quế, đế lót dầy có Quế. Bột Quế còn được nghiên cứu thử nghiệm trong thức ăn gia súc để làm tăng chất lượng thịt các loại gia súc, gia cầm.
Tuy nhiên đứng trước yêu cầu phát triển ngày càng cao, lâm nghiệp của huyện đang đứng trước những khó khăn, thách thức: Quy mô sản xuất phổ biến vẫn là nhỏ lẻ, phân tán năng suất chất lượng rừng chưa tương xứng với tiềm năng đất đai manh mún khó đầu tư thâm canh trồng rừng theo công nghệ tiên tiến, nhân dân khó tiếp cận với vốn vay ưu đãi đầu tư phát triển rừng, đất rừng càng trở nên nghèo kiệt một số diện tích có nguy cơ bị bạc màu. Với những lý do trên học viên tiến hành đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển bền vững vùng trồng Quế trên địa bàn huyện Tràng Định". Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở xây dựng chiến lược áp dụng phát triển lâm nghiệp bền vững trên địa bàn huyện. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được thực trạng rừng trồng quế trên địa bàn huyện Tràng Định.
Đánh giá được sinh trưởng và tình hình sâu bệnh rừng trồng quế tại huyện Tràng Định. Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng dùng trồng quế trên địa bàn huyện Tràng Định. Ý nghĩa khoa học của đề tài Về thực tiễn là cơ sở quan trọng để đề xuất những giải pháp kỹ thuật cho địa phương có định hướng phát triển nhân rộng mô hình trồng Quế hay không. Về khoa học cung cấp thêm những cơ sở thông tin khoa học mang tính chuyên sâu về cây Quế tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Quế là một loại cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) và là đặc sản lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao, tinh dầu Quế là nguyên liệu quý trong công nghiệp dược phẩm và thực phẩm, vì thế Quế cũng có thể được xếp vào nhóm cây công nghiệp, Lê Đình Khả và cộng sự (2013). Ngoài ra, những rừng trồng Quế còn có tác dụng rất hiệu quả là phòng hộ do tán của cây dày và xanh quanh năm. Cây Quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, chiều cao trên 15m, đường kính khoảng 40cm.
Lá quế dài từ 18-20 cm, rộng 6-8 cm, cuống dài khoảng 1cm, mọc riêng từng chiếc và đối nhau, có 3 gân chính từ cuống lá đến đầu lá, nhìn rõ hơn từ mặt dưới và theo hướng song song. Màu của 2 mặt lá không giống nhau, mặt trên xanh bóng mặt dưới xanh đậm. Tán cây hình elip, xanh quanh năm. Thân cây tròn vỏ xám, nứt rạn.
Cả cây quế đều chứa tinh dầu và hàm lượng tinh dầu cao từ 4-5%. Màu tinh dầu có màu vàng đậm, có 70-90% là thành phần Aldehyt Cinamic. Cây có hoa mọc thành chùm nhỏ tầm hạt gạo màu trắng hơi pha vàng, ra hoa vào giai đoạn 8-10 tuổi, hoa mọc ở nách lá đầu cành. Quả Quế mọng và chỉ có một hạt, quả dài 1-1,2 cm, hạt hình bầu dục, quả màu xanh khi chín chuyển màu tím đậm.
Rễ cọc cắm rất sâu và phát triển rất tốt, lan rộng và đan chéo nhau do đó có khả năng sinh trưởng tốt trên các vùng đồi núi dốc. Khi còn nhỏ, cây cần được chăm sóc dưới bóng râm, nhưng khi cây lớn sau khoảng 3-4 năm trồng thì cây lại ưa sáng hơn. Tinh dầu Quế rất thơm và ngọt nhưng hơi cay nồng và được sử dụng rất phổ biến. Ngoài ra, Quế là một cây rồng có giá trị kinh tế cao và được lựa chọn trong những chương trình dự án về xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng núi.
Tuy nhiên, hiên nay, việc trồng quế cũng không được ồ ạt như trước do thời gian thu hoạch lâu hơn. Do đó, người dân bắt đầu chuyển hướng sang 4 trồng Keo vì thời gian thu ngắn hơn quế nên sản lượng quế đang có nguy cơ suy giảm. Tình hình nghiên cứu về cây Quế trên Thế giới 1. Phân loại và thực vật học Chi Quế có tên khoa học là Cinnamomum, là một chi các loài thực vật thường xanh thuộc họ Nguyệt quế (Lauraceae).
Các cây của loài thuộc chi này đều có ls và vỏ cây có tinh dầu thơm. Chi này bao gồm hơn 300 loài, xuất hiện chủ yếu ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của nhiều nơi như: châu Mỹ, Châu Á, châu Đại Dương và Australia. Đặc điểm sinh vật học sinh thái học và kỹ thuật gây trồng * Đặc điểm sinh học: Quế (Cinnamomum cassia) là cây thường xanh được trồng rộng rãi ở Nam và Đông Á (Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam). Cây cao từ 10 - 15 m, vỏ cây màu xám.
Lá thuôn dài 10 - 15 cm. Tất cả các bộ phận của cây đều chứa tinh dầu. Hoa mọc thành chùm nhỏ màu trắng, quả có màu xanh, khi chín có màu tím than, quả mọng dài 1 - 1,2 cm trong chỉ có một hạt, hạt hình bầu dục (1kg hạt quế có khoảng 2. Rễ cây dạng cọc cắm rất sâu và phát triển rất tốt trên những vùng đất dốc.
* Đặc tính sinh thái: Cinnamomum cassia phân bố ở hầu hết các vùng Himalaya nhiệt đới, cận nhiệt đới và mở rộng đến vùng Đông Bắc ấn Độ, đến độ cao 2000 m Quế C.tamara được trồng ở vùng Khasi, Jaintia, đồi Garo của Meghalaya và vùng đồi Cachar Bắc của Assam (Cinnamon and cassia. Cây Quế ở Indonesia có độ cao 2.000m so với mặt nước biển. Vùng Padang là vùng trồng Quế chủ yếu ở độ cao từ 500 – 1. Một loại khác cũng thuộc loài này sống ở vùng núi Korintji có độ cao cao hơn 1.
Loại 5 này chất lượng tốt hơn và được buôn bán trên thị trường thế giới với tên gọi Quế Korintji (cinnamon and cassia. * Kỹ thuật cây trồng: Trên thế giới có nhiều nước trồng quế rất thành công cho sản lượng và năng suất cao như ở Ấn Độ, cây được trồng với kỵ ly 3 m x 2 m. Cây con được gieo trên luống và trồng khi cây 4 - 5 tháng tuổi, khi cây 8 - 10 tuổi được khai thác lá cho đến hàng trăm tuổi. Lá già được thu từ tháng 10 - 12 đến tháng 3 năm sau.
Lựa chọn các cây có năm tuổi trẻ và cây phát triển tốt để thu lá hàng năm và đối với những cây không đạt tiêu chuẩn thì có thể thu lá luân phiên. Khi thu hoạch lá sẽ được bó thành từng bó và đem phơi nắng sau đó đem bán. Sản lượng mỗi cây Quế khoảng 9 - 19 kg/năm. Trồng Teija là một bộ phận hệ thống nông lâm kết hợp ở Ấn Độ (cinnamon and cassia.
Rừng quế ở đây được chăm sóc như đối với cây rừng cả về lâm sinh, cách bón phân lẫn việc tỉa các cành thấp. Phân bón được khuyến cáo là NPK với tỷ lệ 15 - 15 -15, liều lượng 40 - 100 kg trên ha tùy thuộc độ tuổi, những người trồng quế hiếm khi sử dụng phân bón (Akhil Baruah và Subhan C. * Giá trị sử dụng: Lá, vỏ, cành cây được chưng cất để chiết xuất tinh dầu. Dầu quế có nhiều tác dụng như: chống đầy hơi, cảm lạnh, cúm, sốt, nôn mửa, … Vỏ Quế rất phổ biến trong lĩnh vực công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp dược phẩm và hóa mỹ phẩm.