CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾTHU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ GIAN LẬN THUẾTHU NHẬP DOANH NGHIỆP 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp - Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Luật thuế thu nhập doanh nghiệp không đưa ra định nghĩa về thuế thu nhập doanh nghiệp, và cũng không có văn bản pháp luật hiện hành nào đưa ra định nghĩa về khái niệm này. Việc tìm hiểu khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp có thể đi theo nhiều cách khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu. Định nghĩa thuế thu nhập doanh nghiệp dựa trên khái niệm thuế và làm rõ những đặc trưng riêng biệt của loại thuế này cho thấy được toàn diện các đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp trong hệ thống thuế hiện nay. Để hiểu rõ nội hàm của khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp trước tiên cần tìm hiểu thu nhập là gì? Theo từ điển tiếng việt của Viện ngôn ngữ học, “thu nhập” khi là động từ thì nó mang nghĩa “nhận được tiền bạc, của cải, vật chất từ một hoạt động nào đó”[22, tr.
Khi “thu nhập” là danh từ thì nó mang nghĩa là “các khoản thu nhập được trong một khoảng thời gian nhất định thường tính theo tháng, năm (nói tổng quát)” [22, tr. Khái niệm này chỉ rõ được đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quát của “thu nhập” khi nó đảm nhận các vai trò khác nhau trong câu. Nhưng lại chưa đưa ra được cách hiểu rõ ràng về “thu nhập”. Việc định nghĩa thu nhập, khi đóng vai trò là danh từ, sử dụng từ “thu nhập” dẫn đến sự khó hiểu cho người đọc.
Theo từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý, “thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, một doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó. Thu nhập có thể gồm các khoản như tiền lương, tiền 12 công, tiền cho thuê tài sản, lợi nhuận kinh doanh. Thu nhập có thể có được từ nhiều nguồn khác nhau, có thể từ lao động, từ việc sở hữu những giấy tờ có giá trị, từ thừa kế, được tặng cho. Khái niệm này cho thấy cái nhìn bao quát và cụ thể về thu nhập.
Khái niệm “thu nhập” trong từ điển luật học phản ánh được đầy đủ đặc điểm của thu nhập, đó là: Thứ nhất, thu nhập phản ánh lợi ích được gắn với một chủ thể nhất định. Thứ hai, lợi ích của một chủ thể nhất định phải xác định được dưới hình thức giá trị. Thứ ba, lợi ích này được xác định trong một khoảng thời gian nhất định (tháng, năm, quý). Do đó, có thể sử dụng định nghĩa “thu nhập” của Viện khoa học pháp làm cách hiểu chung và thống nhất về thu nhập để xây dựng khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp.
Theo từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý “thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế thu trên thu nhập của doanh nghiệp còn được gọi là thuế thu nhập công ty, là loại thuế phổ biến trên thế giới” [23, tr. Đổng Thị Vân Hồng “thuế thu nhập doanh nghiệp là sắc thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế”. Võ Đình Toàn “thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, thu vào phần thu nhập của các cơ sở kinh doanh, nhằm đảm bảo sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ có thu nhập, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và động viên một phần thu nhập của các cơ sở kinh doanh vào Ngân sách Nhà nước” [12, Tr. 186] Với nhiều cách và phạm vi tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu có thể đưa ra các khái niệm riêng phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Từ những quan điểm trên ta có thể thấy, thuế thu nhập doanh nghiệp có các nét chung sau: thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế tính trên thu nhập phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập hợp pháp khác của các tổ chức. Thuế thu nhập doanh nghiệp có thể được nhìn nhận dưới nhiều phương diện khác nhau, nhưng bao giờ nó cũng mang những đặc điểm nhất định. Mà thông qua 13 các đặc điểm đó có thể phân biệt được nó với các loại thuế khác. Đồng thời, việc xác định các đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp có thể giúp các đối tượng có liên quan thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình.
Ngoài những đặc điểm chung của thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách, gắn với yếu tố quyền lực, không mang tính đối giá. Thuế thu nhập doanh nghiệp mang những đặc điểm đặc trưng, cụ thể: Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế có cơ sở tính thuế là thu nhập của pháp nhân. Khác với thuế thu nhập cá nhân cơ sở tính thuế là thu nhập của cá nhân. Thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ đánh vào thu nhập của các tổ chức được thành lập và hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật, tự chủ về tài chính và tự chịu trách nhiệm trong mọi hoạt động của mình.
Do đó, người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật. Thuế thu nhập doanh nghiệp không đánh vào toàn bộ thu nhập phát sinh của doanh nghiệp, chỉ đánh vào phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi chi phí liên quan để tạo ra thu nhập đó. Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu. Tính chất trực thu của thuế thu nhập doanh nghiệp được thể hiện ở chỗ, thuế được tính trực tiếp trên thu nhập của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập chịu thuế chính là người nộp thuế. Khác với thuế giá trị gia tăng luôn được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và người sử dụng phải trả thông qua hành vi mua hàng hóa, dịch vụ, các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ chỉ là người nộp thuế thay cho người sử dụng. Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệpphụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế nên chỉ khi cơ sở kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế.
Thứ tư, thuế thu nhập doanh nghiệp thường có thuế xuất đều. Khác với thuế thu nhập cá nhân, thường được thiết kế biểu thuế suất lũy tiến, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thường được quy định một tỉ lệ nhất định và áp dụng cho mọi đối tượng nộp thuế. Việc thực hiện mục tiêu công bằng thông qua các hình thức ưu đãi, miễn, giảm thuế. 14 - Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước.
Phạm vi áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp là rất rộng. Nó đánh vào đối tượng nộp thuế có hoạt động sản xuất kinh doanh trên mọi lĩnh vực, mọi khu vực địa lý. Mặt khác khi nền kinh tế phát triển, đầu tư gia tăng, thu nhập của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư tăng lên thì nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có xu hướng tăng lên một cách ổn định và vững chắc. Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Nhà nước ban hành một hệ thống pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệpáp dụng chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Cùng với đó, thông qua việc xác định phạm vi thu thuế và không thu thuế, Nhà nước thể hiện sự ưu đãi của mình đối với một số đối tượng trong xã hội không phải nộp thuế, hoặc thể hiện sự khuyến khích của Nhà nước đối với việc phát triển một lĩnh vực ở một khu vực nào đó. Ngoài việc quy định mức thuế chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, Nhà nước cũng quy định mức thuế suất ưu đãi áp dụng cho từng ngành nghề, lĩnh vực, mặt hàng nhất định thể hiện mức độ khuyến khích hay không khuyến khích của Nhà nước đối với ngành nghề, lĩnh vực, mặt hàng đó. Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội Một trong những mục tiêu của thuế thu nhập doanh nghiệp là điều tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội.
Thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng cho các doanh nghiệp kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, đảm bảo công bằng về cả chiều ngang và chiều dọc. Về chiều ngang, thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng với tất cả các doanh nghiệp không kể kinh doanh ngành nghề gì, lĩnh vực nào. Về chiều dọc, các doanh nghiệp kinh doanh cùng lĩnh vực, không kể quy mô lớn, bé đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp nếu có thu nhập chịu thuế. 15 Như vậy, thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế, mà cụ thể là doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế.
Thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp Nhà nước trực tiếp động viên thu nhập của các đối tượng có thu nhập chịu thuế. Thuế thu nhập doanh nghiệp thể hiện tính chất đồng nhất giữa người nộp thuế và người chịu thuế. Do đó, việc động viên tài chính vào Ngân sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp có tính công bằng hơn các loại thuế gián thu.2 Nội dung cơ bản pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp Nội dung cơ bản pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện việc thu, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.