ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của xã hội loài ngoài. Trong hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức, cá nhân, đất đai là nguồn tài nguyên, nguồn lực và là một đầu vào không thể thiếu. Mặt khác, diện tích đất đai lại có hạn và không thể sản sinh.
Vì vậy, quản lý và sử dụng một cách đầy đủ đất đai là mục tiêu cực kì quan trọng trong chiến lược phát triển Kinh tế - xã hội của mỗi Quốc gia. Mặc dù vấn đề đất đai luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Nhưng trong thực tế quá trình sử dụng cũng như quan hệ đất đai vẫn còn nhiều bất cập; Vì vậy Công tác xây dựng Hồ sơ địa chính đồng bộ, chính quy hiện đại, là công cụ thiết thực cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Trong đó công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói chung, công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các tổ chức nói riêng rất quan trọng.
Thực hiện nhiệm vụ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất theo chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 04/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết 30/2012/QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc hội, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Ngay từ năm 2007, thực hiện Nghị quyết số 07/2007/QH12 ngày 12/11/2007 của Quốc hội, về việc đẩy mạnh công tác cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính. Ngày 24/8/2011, Thủ tướng chính phủ ban hành Chỉ thị số 1474/CT- TTg về thực hiện nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để chấn chỉnh việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất, và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai; Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục chỉ đạo, ban hành Công văn số 2419/BTNMT-TCQLDĐ ngày 13/7/2012 về việc đẩy mạnh cấp Giấy 2 chứng nhận, để cơ bản hoàn thành trong năm 2013 theo yêu cầu Quốc hội khóa XII, tại Nghị quyết số 30/2012/QH-13. Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý, nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên và Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, với sự hướng dẫn của TS.
NguyễnThanh Hải, em đã xây dựng và triển khai nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức trên địa bàn phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2013”. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát Làm rõ những vấn đề lý luận về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đánh giá thực trạng công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức trên địa bàn phường Hoàng Văn Thụ, TP Lạng Sơn. Tìm ra nguyên nhân và hạn chế trong công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đề xuất một số giải pháp để đẩy nhanh tiến độ công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức trên địa phường Hoàng Văn Thụ, TP Lạng Sơn, qua đó tìm được những mặt mạnh và tồn tại trong công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức trên địa bàn phường Hoàng Văn Thụ, TP Lạng Sơn. - Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh tiến độ công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức trên địa bàn nghiên cứu. Yêu cầu của đề tài 3 Đề tài phải đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, các số liệu điều tra, thu thập phải đảm bảo độ chính xác, tin cậy và trung thực.
Các giải pháp đưa ra phải phù hợp với điều kiện của địa phương, từ đó giúp cơ quan quản lý nhà nước đẩy nhanh được công tác cấp giấy chứng nhận cho các tổ chức trên địa bàn phường Hoàng Văn Thụ, TP Lạng Sơn. Ý nghĩa của đề tài 1. Về khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào cơ sở khoa học của công tác quản lý và sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn phường Hoàng Văn Thụ, TP Lạng Sơn 1. Đối với học tập - Việc hoàn thiện đề tài sẽ là cơ hội cho sinh viên củng cố kiến thức đã học trong nhà trường, đồng thời là cơ hội để sinh viên bước đầu tiếp cận với thực tế nghề nghiệp trong tương lai.
- Cần nắm vững những quy định của pháp luật về cấp GCNQSDĐ theo Luật đất đai, hệ thống các văn bản dưới luật về đất đai của Trung Ương và địa phương trong công tác cấp GCNQSDĐ.Đối với thực tiễn - Kiến nghị và đề xuất với các cấp có thẩm quyền đưa ra những giải pháp phù hợp để công tác cấp GCNQSDĐ được tốt hơn. - Đề tài có ý nghĩa góp phần đẩy nhanh công tác cấp GCNQSDĐ ở phường Hoàng Văn Thụ, TP Lạng Sơn trong giai đoạn tới. 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tài liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa an ninh quốc phòng.
Song thực tế đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí giới hạn trong không gian. Cùng với thời gian giá trị của đất có sự biến đổi theo chiều hướng xấu đi hoặc tốt lên điều đó phụ thuộc vào việc khai thác và sử dụng của con người. Trong những năm gần đây, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển mạnh mẽ, đi đôi với sự phát triển đó là nhu cầu về sử dụng đất của các nghành, các địa phương ngày càng tăng dẫn đến tình hình sử dụng đất ngày càng nhiều biến động. Chính vì vậy, công tác quản lý và sử dụng đất đai đã và đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm sâu sắc.
Một trong các nội dung đó là công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác định quyền sử dụng đất hợp pháp. Nó được cấp cho người sử dụng đất để họ có cơ sở pháp lý thực hiện quyền và nghĩa vụ sử dụng đất theo pháp luật. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bộ phận cấu thành của hồ sơ địa chính.
Hồ sơ địa chính là hệ thống tài liệu, số liệu, sổ sách, bản đồ chứa đựng những thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên, kinh tế xã hội, pháp lý đất đai đã được thiết lập trong quá trình đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai ban đầu, và đăng ký biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thông 5 qua công tác đăng ký đất đai, Nhà nước nắm bắt được các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và pháp lý của thửa đất thì mới thực sự nắm chắc được tình hình sử dụng đất và quản lý chặt chẽ mọi biến động đất đai theo đúng pháp luật. Cơ sở khoa học của đề tài Để công tác quản lý cũng như vấn đề sử dụng đất đai mang lại hiệu quảcao nhất tại khoản 2 Điều 6 (Luật đất đai, năm 2003) [2] đã đề ra 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai như sau: 1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đấtđai và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hànhchính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sửdụng đất.
Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thống kê, kiểm kê đất đai. Quản lý tài chính về đất đai. Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản.
Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai. Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
Những quy định của pháp luật về đăng lý đất đai và cấp GCNQSD đất 2. Khái niệm về đăng ký đất đai và cấp GCNQSD đất 2. Đăng ký đất đai (ĐKĐĐ) Là toàn bộ các tài liệu được thiết lập trong quá trình thực hiện thủ tục đăng ký đất đai ban đầu, phải phán ánh nội dung mặt tự nhiên, xã hội và pháp lý. Lập hồ sơ đăng ký đất đai ban đầu bao gồm rất nhiều nội dung như: Điều tra cơ bản, kiểm tra các giấy tờ, các thủ tục giao đất.
Công tác lập hồ sơ đăng ký đất đai ban đầu là một hoạt động chuyên môn của nghành quản lý đất đai, tạo cơ sở cho việc quản lý đất đai thường xuyên. Do vậy hồ sơ đăng ký đất đai ban đầu được coi là căn cứ pháp lý đầy đủ nhất để Nhà nước quản lý đất đai một cách chặt chẽ nhất trên tất cả các mặt của thửa đất. Đăng ký quyền sử dụng đất Đăng ký quyền sử dụng đất là việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất xác định vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Điều 38 Nghị định gồm181/NĐ-CP ngày 29/10/2004 quy định: 1.
Đăng ký quyền sử dụng đất gồm đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu và đăng ký biến động về sử dụng đất. Đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu được thực hiện trong các trường hợp sau: a. Được nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng; b. Người đăng ký sử dụng đất mà thửa đất đó chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.