CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ THUYÉT VÈ CHẮT LƯỢNG DỊCH vụ VÀ sự HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỚI VỚI DỊCH vụ NGÂN HÀNG 1.1 Dịch vụ và chất lượng dịch vụ 1.1 Khái niệm dịch vụ Trong thực tế, các hoạt động dịch vụ (DV) luôn đa dạng và rộng khắp trong đời sống xã hội. Nhiều tác giả trên nhiều lĩnh vực đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về hoạt động này như: Gronroos, c. (1990) trong Service Management and Marketing: Managing the Moments of Truth in Service Competition” (Quản lý và tiếp thị dịch vụ: Quản lý khoảnh khắc của sự thật trong cạnh tranh dịch vụ) đưa ra khái niệm: DỊ ch.một hoạt động.tính chất vô. giữa, khách.
khách, hàng,. Theo Zeithaml và cộng sự (1996): Dịch. việc, (deeds),, những, quy. trình, (process), hay.
khách, hàng. Theo Lovelock và cộng sự (2002), dịch vụ là hành. chất nhưng, hoạt động. hình,, chúng, không, đồng.
6 Kotler và cộng sự (2004) đã định nghĩa: một dịch. một hoạt độn gi hay.cả, Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2011), dịch. xuất kinh, doanh,, dịch. Khái niệm dịch vụ được sử dụng trong nghiên cứu là.
việc, chuyển, quyền, sở. xu ất và. hóa,, nhưng, là. hình, hoạt động.
(người, cung.2 Dịch vụ ngân hàng Theo Tổ chức kinh tế thế giới (1991): Một dịch, vụ. tính, chất tài. chính,, được, mộtnhà cung. chính, cung.
Theo Tổ chức kinh tế thế giói (1991): Dịch. phát, triển, gần. chính,, quản. mặt,, dịch, vụ.
chứng, khoán,, cung. Dịch vụ NH có hai đặc điểm nổi bật: Một là đó là các dịch vụ mà chỉ có các ngân hàng với những ưu thế nhất định mới thực hiện một cách trọn vẹn và đầy đủ. Hai là các dịch vụ ngân hàng đi đôi với các hoạt động của ngân hàng.3 Đặc trưng của dịch vụ Các đặc trưng cơ bản của DV bao gồm: • Tính vô hình (Intangible) Dịch vụ không có chất vật lý. Không thể chạm, nhìn hoặc nếm Dv như những gì có thể làm trên hàng hóa.
Chỉ có thể cảm nhận được lợi ích của dịch vụ khi nó được thực hiện. Ví dụ, chúng tôi cảm nhận được lợi ích của các dịch vụ ngân hàng khi sử dụng điện thoại thông minh để thực hiện các giao dịch hoặc tương tác với nhân viên ngân hàng tại các văn phòng chi nhánh.Tuy nhiên, tính vô hình không có nghĩa là không có gì hữu hình xung quanh việc cung cấp dịch vụ thực tế. Trong nhiều trường hợp, bạn sẽ thấy các yếu tố hữu hình đi kèm với dịch vụ. Các kích thước hữu hình có thể bao gồm ví dụ địa điểm (ví dụ: tiệm cắt tóc), thiết bị (ví dụ: kéo) và tài liệu truyền thông (ví dụ: tờ rơi quảng cáo tiệm cắt tóc).
Những kích thước hữu hình này là một phần của trải nghiệm mà khách hàng mua. Ngoài ra, họ giúp để chứng minh chất lượng dịch vụ. Tính vô hình là một khái niệm phức tạp. Mặc dù tính vô hình là một trong những đặc điểm chính của dịch vụ, nhưng chúng hiếm khi hoàn toàn vô hình.
Đối với hầu hết các dịch vụ, bạn sẽ nhận ra rằng các yếu tố hữu hình là một phần của trải nghiệm. Tuy nhiên, dịch vụ cốt lõi trong mọi trường hợp là vô hình. Một hình thức tồn tại đặc biệt của dịch vụ ngày càng phổ biến đó là thông tin, đặc biệt trong những ngành dịch vụ mang tính hiện đại như tư vấn, pháp lý, dịch vụ nghe nhìn, viễn thông, máy tính. 8 • Tính không đồng nhất và khó xác định chất lượng (Heterogeneous) Một đặc điểm khác là tính không đồng nhất gây khó khăn cho việc thiết lập tiêu chuẩn.
Chất lượng dịch vụ không thể được tiêu chuẩn hóa. Giá tính phí có thể quá cao hoặc quá thấp. Trong trường hợp giải trí và thể thao, chúng ta cũng thấy điều tưong tự. Không thể bán cùng một loại dịch vụ cho tất cả khách hàng ngay cả khi họ trả cùng một mức giá.
Người tiêu dùng đánh giá các dịch vụ theo một cách khác. Tất nhiên, đó là do sự khác biệt trong nhận thức của các cá nhân ỏ cấp độ nhà cung cấp và người dùng. Yeu tố không đồng nhất gây khó khăn cho việc tiếp thị hiệu quả. Các chuyên gia bằng cách sử dụng sự xuất sắc của họ chịu trách nhiệm giảm thiểu vấn đề (Trần Thị Kim Chi, 2019).
CLDV thường có khoảng dao động rộng, phụ thuộc vào thời gian, địa điểm, con người, bối cảnh,. • Tính không mất đi Dịch vụ sẽ không bị mất đi sau khi đã cung cap cho KH (Nguyễn Ngọc Chánh, 2019). • Tính không thể phân chia (Inseparable) Theo Nguyễn Ngọc Chánh (2019): Tính không thể tách rời tập trung vào thực tế là các dịch vụ không có tính chất tách rời. Nói chung, các dịch vụ được tạo ra và cung cấp đồng thời.
Tính không thể tách rời khiến các nhà cung cấp dịch vụ phải hành động và cư xử một cách chuyên nghiệp để các quy trình tiếp thị không tạo điều kiện cho sự suy giảm chất lượng. • Tính không thể cất trữ (Ưnstored) DV không thể lưu giữ được. Một điểm khác làm phức tạp nhiệm vụ của một chuyên gia là bản chất dễ hư hỏng mà chúng tôi tìm thấy trong các dịch vụ. Hàng nếu hôm nay bán không hết có thể cất, bảo quản để bán tiếp.
Như vậy, yếu tố rủi ro ỏ đây 9 dưới một hình thức khác. Nhưng trong bối cảnh dịch vụ, nếu chúng ta không bán được dịch vụ, thì nó không chỉ bị mất cho hôm nay mà còn cho cả tương lai. Neu một người lao động ngừng làm việc, nếu một chỗ ngồi trên máy bay vẫn chưa bán được, nếu một phòng ngủ trong khách sạn vẫn chưa được đặt trước, một chiếc ghế trong rạp chiếu phim vẫn còn trống; chúng tôi thấy công việc kinh doanh không tồn tại và các cơ hội bị mất và mất mãi mãi. Các dịch vụ không thể được lưu trữ hoặc bảo quản (Nguyễn Ngọc Chánh, 2019).
• Hàm lượng tri thức trong dịch vụ chiếm tỷ lệ lớn Theo Lê Đức Toàn, Trần Thị Châu Hà (2020), người.nguyêmvật liệuiđầu.nhất trong, hoạt, động. người, Thể. • Sự nhạy cảm của dịch vụ đối với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ 1.4 Chất lượng dịch vụ Theo Lehtinen (1982), CLDV phải được đánh giá trên hai khía cạnh: quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ. Gronroos (1984) cũng cho rằng: hai khía cạnh của CLDV: (1) kỹ thuật (technical) liên quan đến những gì được phục vụ và (2) chức năng (functional) là nói lên chúng được phục vụ như thế nào.
Parasurman và cộng sự (1988) định nghĩa: CLDV được. Có thể xem đây là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu cho là khá toàn diện,.xét CLDV theo quan điểm KH, xem KH là trung tâm. Zeithaml và cộng sự (2004) cho rằng: KH đánh giá chất lượng dịch vụ bằng cách so sánh những gì họ mong đợi với những gì thực tế dịch vụ được thực hiện. Vì vậy 10 CLDV có thể xác định mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ.
Tóm lại, có thể hiểu, CLDV. là két quả của một quá trình. đánh giátích. của KH dựa trên.
sánh, giữa chất, lượng, mong.5 Đặc trưng của chất lượng dịch vụ Các đặc trưng cơ bản của CLDV như sau: • Tính vượt trội (Transcendent) Đặc điểm này thể hiện ở sự tiến bộ hơn so với các dịch vụ khác cùng lĩnh vực, điều này làm nên tính cạnh tranh cho DV đó (Nguyễn Ngọc Chánh, 2019). • Tính đặc trưng của sản phẩm (Productled) Những gì tinh túy nhất có thể được tích hợp trong sản phẩm để tạo nên đặc trưng riêng cho KH tạo nên tính đặc trưng của DV đó. Thông qua các điểm này mà KH có thể nhận biết được sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, rất khó xác định đầy đủ và chính xác các đặc trưng riêng này (Nguyễn Ngọc Chánh, 2019).
• Tính cung ứng (Procest or supplyled) CLDV gắn liền với quá trình đưa dịch vụ đến KH. Do đó, việc thực hiện dịch vụ (Ai, làm thế nào, tháo độ ra làm sao?, .) sẽ quyết định CLDV tốt hay xấu. Đây là yếu tố bên trong phụ thuộc vào nhà cung cấp (Nguyễn Ngọc Chánh, 2019). • Tính thỏa mãn nhu cầu (Customerled) DV.
trường, kinh, doanh, hiện. • Tính tạo ra giá trị (Valucled) 11 CL DV đi. ra nhằm phục, vụ KH. Dịch vự không, sản.
sinh ragiátri.2 Đo lường chất lượng dịch vụ 1.1 Mô hình FTSO của Gronroos (1984) Khái niệm ban đầu về CLDV được hình thành bởi Gronroos (1984) cách đây gần 30 năm trước. Gronroos lần đầu tiên đề xuất việc đo lường CLDV cung cấp đến KH một cách tổng thể thông qua kết quả của việc đánh giá hai yếu tố: chất lượng chức năng (Funtional) và kỹ thuật (Technical).thuật là nhũng. phục, vụ như. Gronroos (1984) cho rằng khách hàng đã so sánh những kỳ vọng của họ với trải nghiệm thực tế mà họ nhận, được về chất lượng dịch vụ, theo mô hình 1.1 Mô hình chất lượng dịch vụ Gronroos (1984) Nguồn: Gronroos (1984) 12 Từ mô hình nêu trên, hình ảnh (gồm các nhân tố như: truyền thông tiếp thị, truyền miệng, nhu cầu KH, giá cả.) được xây dựng nên, tác động mạnh mẽ lên CLDV.
Mô hình CLDV Gronroos (1984) là nỗ lực đầu tiên để đo lượng CLDV. Mô hình Gronroos là mô hình chung, không cung cấp bắt kỹ kỹ thuật nào để đo lường CLDV. về sau, Rust & Oliver (1994) cố gắng tinh chỉnh mô hình Bắc Âu thành mô hình ba thành phần, bao gồm: sản phẩm DV - service product (hay chất lượng kỹ thuật), việc cung cap DV - service delivery (hay chất lượng chức năng), và môi trường dịch vụ nhưng không kiểm định mô hình. Nhìn chung, vói tính chất là mô hình đầu tiên, FTSQ vạch ra những nhân tố thành phần CLDV, là co sở để phát triển hàng loạt nghiên cứu CLDV sau này.2 Mô hình SER VQỊUAL của Parasuraman và cộng sự (1988) Parasuraman và cộng sự (1985) là những người khái niệm hóa các kỳ vọng của khách hàng đối vói một loại hình doanh nghiệp nói chung để có thể thiết kế một thang đo lường nó, gọi là thang đo SERVQUAL.
Theo các tác giả, CLDV bao gồm năm thành phần co bản (1988): Tin cậy (Reliability), Đáp ứng (Responsiveness), Bảo đảm (Assurance), Đồng cảm (Empathy) và Phưong tiện hữu hình (Tangibles). 13 Tin cậy (Reliability) Dịch vụ câm Đáp ứng nhận (Percived Cảm nhận (Responsiveness sendee) chất Iirợng ) dịch vụ Bào đảm (Perceived (Assurance) Sendee Đổng cảm Quality) Dịch vụ kỳ (Empathy) "- vọng (Expected Plnrong tiện service) hữu hình (Tangibles) Hình 1.2 Mô hình chất lượng dịch vụ Parasuraman và cộng sự (1985) Nguồn: Parasuraman và cộng sụ (1985) Mỗi thành phần trong 5 thành phần nêu trên được đo bằng nhiều biến quan sát, tổng cộng có 21 biến quan sát, gọi là thang đo SERVQUAL.