Chương 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Phân tích mức độ hài lòng của khách hàng khi mua sắm trên trang web Lazada. Chương 4: Nguyên nhân va dé xuất giải pháp.
CHUONG MOT: CƠ SỞ LÝ THUYET VA THUC TIEN 1. CAC KHAINIEM CO BAN 1. Sự hai long cua khách hang Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hai lòng của khách hang cũng như có khá nhiều tranh luận về định nghĩa này. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sự hài lòng là sự khác biệt giữa kì vọng của khách hàng và cảm nhận thực tế nhận được.
Theo Fornell (1995) sự hài lòng hoặc sự thất vọng sau khi tiêu dùng, được định nghĩa như là phản ứng của khách hàng về việc đánh giá băng cảm nhận sự khác nhau giữa kỳ vọng trước khi tiêu dùng với cảm nhận thực tế về sản phẩm sau khi tiêu dùng nó. Hoyer và MacInnis (2001) cho rang sự hài lòng có thé gan liền với cảm giác chấp nhận, hạnh phúc, giúp đỡ, phan khích, vui sướng. Theo Hansemark và Albinsson (2004), “Sự hài lòng của khách hàng là một thái độ tong thé của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ, hoặc một cảm xúc phản ứng với sự khác biệt giữa những gì khách hang dự đoán trước và những gi họ tiếp nhận, đôi với sự đáp ứng một sô nhu cau, mục tiêu hay mong muôn”. Theo Zeithaml] & Bitner (2000), su hài lòng của khách hang là sự đánh giá của khách hang về một sản phẩm hay một dich vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của họ.
Kotler (2000), định nghĩa “Sự hai lòng như là một cảm giác hài lòng hoặc thất vọng của một người bang két qua của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm (hay kết quả) trong mdi liên hệ với những mong đợi của họ”. Theo Kano (Kano, 1984), mỗi khách hàng đều có 03 cấp độ nhu cầu: nhu cầu cơ bản, nhu cầu biéu hiện, nhu cầu tiềm ấn. - Nhu cau cơ bản: không bao giờ được biểu lộ, nếu đáp ứng loại nhu cầu này sẽ không mang đến SHL của khách hàng, tuy nhiên, nếu ngược lại khách hàng sẽ không hài lòng. - Nhu cau biểu hiện: là nhu cầu mà khách hàng biểu lộ sự mong muốn, chờ doi đạt được.
Theo ông, giữa SHL của khách hàng và sự đáp ứng được nhu cau này có mối quan hệ tuyến tính. - Nhu cau tiềm ấn: đây là loại nhu cầu mà khách hàng không đòi hỏi, tuy nhiên nếu có sự đáp ứng từ phía nhà cung ứng dịch vụ thì SHL khách hàng sẽ tăng lên. Ngoài ra, còn một lý thuyết thông dụng khác dé xem xét SHL của khách hàng là lý thuyết “Kỳ vọng — Xác nhận”. Lý thuyết được phát triển bởi Oliver (1980) và được dùng để nghiên cứu SHL của khách hàng đối với chất lượng của các dịch vụ hay sản phẩm của một tổ chức.
Lý thuyết đó bao gồm hai quá trình nhỏ có tác động độc lập đến SHL của khách hàng: kỳ vọng về dịch vụ trước khi mua và cảm nhận về dịch vụ sau khi đã trải nghiệm. Theo lý thuyết này có thể hiểu SHL của khách hàng là quá trình như sau: (1) Trước hết, khách hàng hình thành trong suy nghĩ của mình những kỳ vọng về những yếu tố cau thành nên chất lượng dịch vu mà nhà cung cấp có thé mang lại cho họ trước khi các khách hàng quyết định mua. (2) Sau đó, việc mua dịch vụ và sử dụng dịch vụ đóng góp vào niềm tin khách hàng về hiệu năng thực sự của dịch vụ mà họ đang sử dụng. (3) Sự thỏa mãn của khách hàng chính là kết quả của sự so sánh hiệu quả mà dịch vụ này mang lại giữa những gì mà họ kỳ vọng trước khi mua dịch vụ và những gi mà họ đã nhận được sau khi đã sử dung nó và sẽ có ba trường hợp: Ky vọng của khách hàng là:Được xác nhận nếu hiệu quả của dịch vụ đó hoàn toàn trùng với kỳ vọng của khách hang; Sẽ thất vọng nếu hiệu quả dịch vụ không phù hợp với kỳ vọng, mong đợi của khách hàng: Sẽ hài lòng nếu như những gì họ đã cảm nhận và trải nghiệm sau khi đã sử dung dịch vụ vượt quá những gi mà họ mong đợi, ky vọng trước khi mua dịch vụ.
Từ việc phân tích ý kiến của các chuyên gia cho thay SHL khách hàng có vai trò tác động đối với mục tiêu, chiến lược phát triển của tổ chức, doanh nghiệp. Việc thỏa mãn khách hàng trở thành một mục tiêu quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ, giữ vững sự trung thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của tô chức, doanh nghiệp. Khách hàng được thỏa mãn là một yếu tố quan trọng để duy trì được thành công lâu dài trong kinh doanh và các chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm thu hút va duy trì khách hang (Zeithaml và ctg, 1996) 1. Mua sắm trực tuyến Thương mại điện tử (còn gọi là thị trường điện tử, thị trường ảo, E-Commerce hay E-Business) là quy trình mua bán ảo thông qua việc truyền dữ liệu giữa các máy tính trong chính sách phân phối của tiếp thị.
Tại đây một mỗi quan hệ thương mại hay dịch vụ trực tiếp giữa người cung cấp và khách hang được tiễn hành thông qua Internet. Khó có thể tìm một định nghĩa có ranh giới rõ rệt cho khái niệm nay. Khái niệm thi trường điện tử được biết đến lần đầu tiên qua các công trình của Malone, Yates và Benjamin nhưng lại không được định nghĩa cụ thé. Các công trình này nhắc đến sự tồn tại của các thị trường điện tử và các hệ thống điện tử thông qua sử dụng công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông.
Chiến dịch quảng cáo của IBM trong năm 1998 dựa trên khái niệm "E-Commerce" được sử dụng từ khoảng năm 1995, khái niệm mà ngày nay được xem là một lĩnh vực năm trong kinh doanh điện tử (E-Business). Các quy trình kinh doanh điện tử có thé được nhìn từ phương diện trong nội bộ của một doanh nghiệp (quản lý dây chuyền cung ứng — Supply Chain Management, thu mua điện tu- E-Procurement) hay từ phương diện ngoài doanh nghiệp (thị trường điện tử, E-Commerce,. Khái niệm về dịch vụ 12. Khai niệm Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao doi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gom rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đôi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau.
Đã có nhiều khái niệm, định nghĩa về dịch vụ nhưng để có hình dung về dịch vụ trong nghiên cứu này, chúng tôi tham khảo một số khái niệm dịch vụ cơ bản. Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tô chức và được tra công. Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất. Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoé.va mang lại lợi nhuận.
Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhăm tạo giá trỊ sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu câu và mong đợi của khách hàng. Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thé công hiến cho khách hàng nhăm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm dé trao đối, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyên quyên sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thê găn liên hoặc không găn liên với sản phâm vật chât.” Theo ISO 8402, “Dịch vụ là kết quả tao ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của bên cung ứng để đáp ứng nhu cầu khách hàng.” Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biéu dưới những góc độ khác nhau nhưng nhìn chung thì dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người.
Đặc điểm của dịch vụ là không ton tại 6 dang san pham cu thé (hữu hình) như hang hoá nhưng nó phục vu trực tiếp nhu cau nhất định của xã hội. Dac điểm dịch vụ Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hoá khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thé tách rời và tính không thé cất giữ. Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thé nhận dang bằng mắt thường được. - Tinh vô hình: Không giống như những sản phẩm vật chat, dịch vụ không thé nhìn thấy được, không nếm được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi người ta mua chúng.
Họ sẽ suy diễn về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thay. - Tinh không đồng nhất: Đặc tính này còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà 7 cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đói tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Điều này có thé dẫn đến, những gi công ty dự định phục vụ thì có thé hoàn toàn khác với những gi mà người tiêu dùng nhận được.
- Tinh không thé tách rời: Tinh không tách rời cua dich vu thé hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Dịch vụ thường 30 được tạo ra và sử dụng đồng thời. Đối với sản phẩm hàng hoá, khách hàng ch su dụng sản phẩm ở giai đoạn cudi cung, con đối với dich vu, khach hang đồng hành trong suốt hoặc một phân của quá trình tạo ra dịch vụ. - Tinh không lưu giữ được: Dịch vụ không thé cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hoá khác.
Tính không lưu giữ được của dịch vụ sẽ không thành vấn đề khi mà nhu cầu 6n định. Khi nhu cầu thay đổi, các công ty dịch vụ sẽ gặp khó khăn. Tổng quan về chất lượng dịch vụ Xuất phát từ những quan điểm chất lượng trong lĩnh vực sản xuất của những năm 1930, trong những thập kỷ gần day, chat lượng dịch vụ đã được xác định như một yếu tố cạnh tranh có tính chiến lược.