phần mở đầu và kết luận. Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chƣơng 2: Thực trạng sự gắn kết của ngƣời lao động với tổ chức tại Bƣu điện tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao sự gắn kết của ngƣời lao động với tổ chức tại Bƣu điện tỉnh Bình Định.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý thuyết về sự gắn kết 1. Khái niệm sự gắn kết 1. Sự gắn kết với tổ chức Theo Kahn (1990) cho rằng sự gắn kết của nhân viên là việc các thành viên trong tổ chức khai thác bản thân họ đối với công việc.
Trong sự tham gia, nhân viên sử dụng và thể hiện thể chất, nhận thức và cảm xúc của họ trong quá trình thực hiện vai trò. Khía cạnh nhận thức của sự gắn kết của nhân viên liên quan đến niềm tin của nhân viên về tổ chức, lãnh đạo và điều kiện làm việc. Khía cạnh tình cảm liên quan đến thái độ tích cực hay tiêu cực của nhân viên đối với tổ chức và các nhà lãnh đạo của. Khía cạnh vật chất của sự gắn kết của nhân viên liên quan đến năng lƣợng thể chất đƣợc sử dụng bởi các cá nhân để hoàn thành vai trò của họ.
Nhƣ vậy, theo Kahn (1990), sự gắn kết có nghĩa là hiện diện về mặt tâm lý cũng nhƣ thể chất khi nắm giữ và thực hiện một vai trò trong tổ chức. Thông thƣờng, sự gắn kết của nhân viên đƣợc định nghĩa là cam kết về cảm xúc và trí tuệ cho tổ chức (Baumruk, 2004). Mặc dù thừa nhận rằng sự gắn kết của nhân viên là một cấu trúc nhiều mặt, nhƣ trƣớc đây đƣợc đề xuất bởi Kahn (1990), Truss và cộng sự (2006) định nghĩa sự gắn kết của nhân viên một cách đơn giản là đam mê công việc. Harter (2002) cho rằng sự gắn kết nhân viên liên quan đến sự tham gia và sự hài lòng cũng nhƣ sự hăng hái của cá nhân trong công việc.
Bên cạnh đó, Shuck và Wollard (2010) cho rằng nhân viên gắn kết là trạng thái nhận thức, cảm xúc và hành vi của một nhân viên hƣớng tới các kết quả mong muốn của tổ chức. Theo quan điểm của Saks (2006), sự gắn kết nhân viên đƣợc xác định 6 là một cấu trúc khác biệt và duy nhất bao gồm các yếu tố nhận thức, cảm xúc, hành vi liên quan đến sự thể hiện vai trò của cá nhân trong tổ chức. Một cách kiểu khác, sự gắn kết của nhân viên có thể đƣợc mô tả là cách nhân viên thể hiện cam kết đầy đủ đối với công việc của họ, thể hiện tình cảm và tập trung vào các mục tiêu dài hạn của tổ chức (Saks và cộng sự 2006), và thể chất, cảm xúc và nhận thức trong công việc của họ (Sanneh và Taj, 2015). Chandani (2016) cho rằng một nhân viên gắn kết với tổ chức là ngƣời tạo ra kết quả, không thay đổi công việc thƣờng xuyên và quan trọng hơn là đại sứ của công ty mọi lúc.
Hiệu suất của một nhân viên gắn kết thể hiện ở kết quả đạt đƣợc bằng cách kích thích nhân viên nhiệt tình với công việc và hƣớng tới sự thành công của tổ chức. Kết quả này chỉ có thể đạt đƣợc khi ngƣời sử dụng lao động đƣa ra một cam kết cho nhân viên thể hiện những hành vi tích cực, cụ thể phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Nhân viên gắn kết là những ngƣời làm việc với niềm đam mê hƣớng tới các mục tiêu của tổ chức. Một nhân viên không gắn kết là một ngƣời đƣợc coi là tham gia nhƣng không có niềm đam mê và năng lƣợng đối với mục tiêu chung của tổ chức.
Nhân viên không gắn kết là những ngƣời không hài lòng với công việc của họ, một hành động ngoài ý muốn của họ. Sự gắn kết với công việc Saks (2006) đã phân biệt giữa gắn kết với công việc và gắn kết tổ chức. Sự gắn kết với công việc tập trung vào sự nhiệt tình để thực hiện bản thân công việc, trong khi sự gắn kết của tổ chức đòi hỏi sự nhiệt tình đối với công việc của nhân viên công ty. Trong nghiên cứu của mình, ông nhận thấy rằng sự gắn kết với công việc và tổ chức là khác nhau do mối quan hệ của chúng với tiền đề và kết quả là khác biệt, sự tham gia của tổ chức là một yếu tố dự đoán mạnh mẽ hơn nhiều về tất cả các kết quả hơn là gắn kết với công việc.
Schaufeli và Bakker (2001) cho rằng sự gắn kết công việc là trạng thái 7 tinh thần tích cực, thỏa mãn, có liên quan đến công việc đƣợc đặc trƣng bởi các thuộc tính sự hăng hái, cống hiến và say mê. Gắn kết công việc bao hàm cả những trạng thái tinh thần thể hiện về suy nghĩ lời nói và hành động của nhân viên với công việc: đó là sự để tâm vào công việc, tận tụy với công việc, làm việc với niềm đam mê và nhiệt thành, cống hiến cho công việc, nỗ lực và đầy sinh lực làm việc (khác với khái niệm gắn kết với tổ chức). Gắn kế đƣợc đề cập đến ở đây nhằm chỉ trạng thái tác động mang tính nhận thức và liên tục chứ không phải mang tính tức thời, không tập trung vào đối tƣợng, cá nhân hay sự kiện, hành vi nào. Ba yếu tố đo lƣờng sự gắn kết công việc: (1) Yếu tố hăng hái: tràn đầy năng lƣợng và dành tâm trí làm việc.
Sẵn sàng nỗ lực làm việc không ngừng ngay cả khi phải đối mặt với khó khăn. (2) Yếu tố cống hiến: dành trọn tâm trí vào công việc, cảm thấy công việc có ý nghĩa nhiệt tình, luôn tìm thấy cảm hứng, tự hào và thử thách với công việc. (3) Yếu tố đam mê: hoàn toàn tập trung cho công việc và hạnh phúc khi dành hết thời gian cho công việc. Những nhân viên gắn kết với công việc là những ngƣời đầy sinh lực, tự tin vƣợt qua những sự kiện xảy ra trong cuộc sống của họ (Bakker, 2001).
Với mức độ hoạt động và thái độ tích cực, những nhân viên này nhận đƣợc sự cảm kích, công nhận và thành công. Mặc dù mẫu ngƣời này cảm thấy mệt mỏi sau ngày dài làm việc nhƣng họ miêu tả sự mệt mỏi này là một trạng thái dễ chịu, rất xứng đáng khi nó gắn với những thành quả tích cực họ đạt đƣợc. Họ cũng tận hƣởng những hoạt động khác của cuộc sống ngoài công việc. Không nhƣ những ngƣời nghiện việc, những nhân viên gắn kết với công việc không làm việc vất vả vì nội lực thôi thúc không thể kháng cự đƣợc mà đối với họ, làm việc là niềm vui (Gorgievski và cộng sự, 2010).
Trong phạm vi đề án này, tác giả nghiên cứu sự gắn kết của ngƣời lao động đối với tổ chức. Theo quan điểm của tác giả thì: “Sự gắn kết của người lao 8 động với tổ chức là sự cam kết, đồng hành của họ với tổ chức trong bất cứ hoàn cảnh nào, thể hiện tinh thần làm việc vì đam mê và hướng tới sự phát triển trường tồn của tổ chức”. Tầm quan trọng của sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức Sự gắn bó của nhân viên đối với tổ chức sẽ giúp tiên lƣợng đƣợc kết quả lao động của nhân viên, thành công của tổ chức và hiệu quả tài chính. Theo dữ liệu báo cáo trong Hội thảo Chiến lƣợc Quản lý nguồn nhân lực năm 2006, một nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu về sự gắn bó của nhân viên với tổ chức đã chỉ rõ sự khác biệt đáng kể giữa các tổ chức có các nhân viên gắn bó ở mức độ cao với tổ chức mà nhân viên của họ có mối liên hệ lỏng lẻo hơn.
Nghiên cứu này đã tập hợp số liệu điều tra trên 664.000 ngƣời làm công trên khắp thế giới và tiến hành phân tích chỉ số đo hiệu quả tài chính trong vòng hơn 12 tháng, bao gồm thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh, thu nhập ròng và thu nhập thực nhận trên mỗi cổ phiếu. Các kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ cải thiện hiệu quả hoạt động trong năm đối với thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh chênh lệch xấp xỉ 52% giữa các tổ chức có nhân viên gắn bó ở mức độ cao so với các tổ chức có mối liên hệ lỏng lẻo hơn. Do đó, sự gắn bó của nhân viên đối với tổ chức hình thành khi nhân viên đó có tâm thế sẵn sàng tham gia các hoạt động của tổ chức và sự gắn bó đó là một phần trong mạng lƣới nguồn nhân lực hoặc mạng lƣới nhân tài của tổ chức. Nhƣ vậy, sự gắn kết của nhân viên mang lợi ích to lớn cho tổ chức, cụ thể: Nâng cao hiệu suất làm việc: Khi nhân viên gắn kết với tổ chức, họ làm việc tập trung, trách nhiệm và sáng tạo, giúp hiệu suất công việc đƣợc nâng cao.
Theo khảo sát của Gallup, năng suất công việc của các công ty có mức độ gắn kết các có thể đạt đến hơn 22% so với các doanh nghiệp không đạt đƣợc sự gắn kết. 9 Làm giảm các rủi ro trong công việc: Khi cảm nhận đƣợc sự gắn kết, nhân viên nhận thấy vai trò, giá trị của bản thân với tổ chức và tiến hành công việc cẩn thận và tận tâm, nhờ đó rủi ro giảm xuống và chất lƣợng công việc tăng lên. Gallup đã nghiên cứu trên nhiều doanh nghiệp và cho biết vấn đề về chất lƣợng sản phẩm giảm 41% và sự cố trong hoạt động của tổ chức cũng giảm 48% ở các doanh nghiệp đạt đƣợc mức gắn kết cao. Tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tổ chức: Theo nghiên cứu của Bhatnagar (2007), những nhân viên gắn bó với tổ chức có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tổ chức của mình, nhƣ đã giải thích theo cách nhìn dựa trên nguồn lực của tổ chức.
Cách nhìn dựa trên nguồn lực cho rằng một cơ quan, tổ chức có thể xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững thông qua tạo ra giá trị bằng bí quyết riêng mà các đối thủ cạnh tranh khó bắt chƣớc. Các nhân viên gắn bó với tổ chức theo các tiêu chí này sẽ trở thành tài sản, thế mạnh phục vụ cho lợi thế cạnh tranh bền vững của tổ chức. Đối với bất kỳ một tổ chức nào thì cả hai yếu tố, những nhân viên tài năng và sự gắn bó của họ với tổ chức đều giữ vai trò quan trọng. Chúng đều liên quan đến phƣơng pháp "mềm" trong quản trị nguồn nhân lực, đồng thời thúc đẩy các lợi thế cạnh tranh và kích thích các đóng góp tích cực khác cho tổ chức.