mở đầu của quá trình mua lại sát nhập hoặc thay thế ban quản lí ngân hàng. Rủi ro tín dụng và lãi suất có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản với việc hàng loạt người rút tiền ra khỏi ngân hàng, buộc ngân hàng phải đóng cửa và tuyên bố phá sản. Phân loại rủi ro tín dụng Khi NH thực hiện chức năng chuyển hóa tài sản, thực chất NH đã chia sẻ mức độ rủi ro với người tiết kiệm, đã biến đổi thời hạn cũng như khối lượng vốn từ những luồng vốn dư thừa nhỏ lẻ thời hạn ngắn thành những nguồn vốn với thời hạn dài hơn và lớn hơn. Như vậy hoạt động của NH luôn chứa đựng rủi ro, có nhiều cách phân loại rủi ro theo nhiều tiêu thức khác nhau song chúng đều có bản chất chung là gây ra những tổn thất cho ngân hàng.
Ở đây xin sử dụng cách phân loại rủi ro phổ biến, rủi ro chia làm các loại sau: 8 Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ cả vốn và lãi. Đối với mỗi khoản vay được thực hiện với mỗi khách hàng cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên rủi ro luôn tiềm ẩn trong đó. Một số ý kiến cho rằng trên quan điểm quản lí toàn bộ ngân hàng, tỉ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung.
Do vậy, ngân hàng coi đó là một thành công trong quản lí khi có tổn thất dưới mức tỉ lệ tổn thất dự kiến. Rủi ro hối đoái Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng khi tỉ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính. Trong cơ chế thị trường, tỉ giá thường xuyên dao động tạo ra thu nhập thặng dư hoặc thâm hụt tạm thời. Trong đó có những trường hợp thay đổi tỉ giá ngoài dự kiến dẫn đến tổn thất cho ngân hàng.
Rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi lãi suất thay đổi ngoài dự tính. Lãi suất ngân hàng thường xuyên biến động với các mức độ khác nhau có thể dẫn đến tổn thất. Rủi ro lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như sự biến động của lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay. Rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá hoặc nhỏ hơn khả năng thanh khoản dự kiến làm gia tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản hoặc làm cho ngân hàng mất khả năng thanh khoản.
9 Các rủi ro khác liên quan đến hoạt động tác nghiệp của ngân hàng như: Sai sót, nhầm lẫn trong thanh toán, hỏa hoạn, lỗi công nghệ, cướp ngân hàng… 1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân khách quan Nguyên nhân khác 1. Quản trị ngân hàng 1. Sử dụng vốn vay 1.
Môi trường pháp lý 2. Quy trình tín dụng 2. Năng lực quản lý 2. Chiến lược phát triển 3.
Chính sách tín dụng 3. RR không mong muốn toàn hệ thống NH 4. Chất lượng nhân sự 4. Cố ý lừa đảo 3.
Rủi ro quốc gia 5. Thông tin tín dụng 4. Rủi ro bất khả kháng 5. Thông tin tín dụng Thất thoát trong cho vay Dùng quỹ DPRR và xoá sổ Mất dần vốn ngân hàng Ngân hàng đi đến đóng cửa 1.
Nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân dẫn đến RRTD trước hết cần phải được nhìn nhận một cách nghiêm túc từ phía người cho vay. Trên thực tế, các ngân hàng còn thiếu một chính sách tín dụng đúng đắn, thông tin tín dụng chưa đầy đủ, chất lượng cán bộ tín dụng chưa đáp ứng yêu cầu và phù hợp để tối thiểu hóa nguy cơ rủi ro. Quản trị ngân hàng được thể hiện ở 3 nội dung: Hoạch định chiến lược và phương án kinh doanh của ngân hàng. Tổ chức thực hiện.
Kiểm tra, giám sát. 10 Bất kỳ một nội dung nào trong ba nội dung trên được thực hiện một cách yếu kém cũng sẽ dẫn đến RRTD. Chẳng hạn nếu chiến lược khách hàng không đứng đắn thì NHTM sẽ có đối tượng khách hàng xấu. Hoặc nếu ngân hàng chấp hành không nghiêm túc chế độ tín dụng và điều kiện cho vay thì không thể ràng buộc chặt chẽ nghĩa vụ trả nợ của khách hàng.
Hoặc nếu khâu kiểm tra, giám sát không hiệu quả sẽ dẫn đến không phát hiện, ngăn ngừa được các bộ phận, cá nhân thực hiện không đúng chính sách, mục tiêu kinh doanh đề ra và làm xuất hiện các khoản vay có vấn đề… Công tác quản lý yếu kém còn thể hiện ở sự tập trung quá mức vào một khu vực khách hàng, thiếu sự điều chỉnh danh mục tín dụng trước những diễn biến kinh tế bất lợi, thiếu chuẩn mực đánh giá khách hàng và những rủi ro đạo đức nghề nghiệp tiềm năng. Hậu quả là đẩy các ngân hàng rơi vào tình trạng rủi ro tín dụng cao. Quy trình tín dụng: Rủi ro tín dụng trước hết phát sinh do ngân hàng chưa thiết lập được một quy trình tín dụng chặt chẽ từ khâu lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng, phân tích tín dụng, ra quyết định cấp tín dụng, giải ngân, giám sát, thu nợ đến khâu thanh lý tín dụng. Giữa các giai đoạn có mối quan hệ hỗ trợ cho nhau, việc phân đoạn này tạo điều kiện cho việc xác định rõ ràng các thao tác nghiệp vụ ở mỗi giai đoạn và phân định trách nhiệm cho nhân viên thực hiện.
Cho đến nay hầu như chưa có NHTM nào của nước ta ban hành và thực hiện được chiến lược, chính sách phát triển và quản lý rủi ro tín dụng một cách khoa học, với những dự báo theo tháng, quí, năm theo các chỉ tiêu định tính và định lượng. Nếu các biện pháp giảm thiểu rủi ro không được thực hiện trong từng nghiệp vụ riêng lẻ, chưa xây dựng được quy trình phòng ngừa RRTD… thì tần suất và quy mô tác hại của RRTD sẽ không được kiểm soát, phòng ngừa, quy mô thiệt hại của ngân hàng sẽ không thể lường được. 11 Chính sách tín dụng Chính sách tín dụng của một ngân hàng là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng đó. Bên cạnh việc phải phù hợp với đường lối phát triển của nhà nước thì chính sách tín dụng cũng phải đảm bảo kết hợp hài hoà quyền lợi của người gửi tiền, người đi vay và quyền lợi của chính bản thân ngân hàng.
Chính sách tín dụng phải tạo ra sự công bằng, không những phải đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng mà cũng phải đảm bảo đủ sức hấp dẫn đối với khách hàng. Một chính sách tín dụng đồng bộ, thống nhất và đầy đủ, đúng đắn sẽ xác định phương hướng đúng đắn cho cán bộ tín dụng. Ngược lại, một chính sách tín dụng không đầy đủ, đúng đắn và thống nhất sẽ tạo ra định hướng lệch lạc cho hoạt động tín dụng, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng, đối tượng tạo kẽ hở cho người sử dụng vốn không đem lại hiệu quả kinh tế dẫn đến RRTD. Hiện nay, nhiều ngân hàng thiếu một hệ thống chỉ tiêu phù hợp để phân tích, đánh giá và thẩm định thông tin khách hàng, mức độ khả thi của dự án cũng như giá trị thực của tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, từ đó có thể dẫn đến những quyết định tín dụng sai lầm.
Đồng thời đó là sự bất hợp lý trong cơ cấu nguồn vốn huy động và nguồn vốn sử dụng cũng như cơ cấu giữa vốn cho vay ngắn hạn và cho vay trung dài hạn. Cụ thể, nếu dự trữ vốn quá ít so với nhu cầu đảm bảo thanh toán có thể đẩy ngân hàng đến tình trạng mất khả năng thanh toán. Mặt khác, nếu dự trữ vốn quá nhiều sẽ gây lãng phí trong sử dụng nguồn lực vốn. Trong quá trình phát triển, việc mở rộng hoạt động tín dụng quá mức cũng tạo điều kiện cho RRTD của ngân hàng tăng lên.
Mở rộng tín dụng quá mức đồng nghĩa với việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát của cán bộ tín dụng đối với việc sử dụng khoản vay giảm xuống đồng thời cũng làm cho việc tuân thủ chặt chẽ theo quy trình tín dụng bị lơi lỏng. 12 Chất lượng nhân sự Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng núi riêng cũng như trong hoạt động của ngân hàng nói chung. Việc tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệp tốt, giỏi chuyên môn, am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực tham gia đầu tư vốn, có năng lực phân tích và xử lý dự án xin vay… sẽ giúp cho ngân hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra khi cho vay. Ngược lại, trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ cho vay yếu kém dẫn đến cán bộ cho vay không đánh giá chính xác về khách hàng và phương án vay vốn, từ đó làm phát sinh những hợp đồng cho vay kém an toàn.
Cùng với sự hạn chế về trình độ là vấn đề phẩm chất đạo đức của cán bộ cho vay. Trước sự cám dỗ của vật chất, nhiều cán bộ cho vay đó xa ngã, hành động thiểu nguyên tắc, làm trái quy định, móc ngoặc với khách hàng, ngây tổn thất to lớn đối với ngân hàng cho vay. Thông tin tín dụng Những thông tin chính xác về khách hàng sẽ giúp ích rất nhiều cho ngân hàng trong những công việc có liên quan đến việc cho vay và quản lý tiền vay. Thông tin càng chính xác, kịp thời và toàn diện thì công tác tín dụng của ngân hàng càng được thực hiện tốt và các rủi ro sẽ được hạn chế tốt, chất lượng tín dụng được nâng cao hơn.
Tuy nhiên nến thiếu thông tin tín dụng hoặc thông tin tín dụng không chính xác, chưa có sự phân tích đánh giá doanh nghiệp một cách khách quan, đúng đắn sẽ dẫn đến RRTD cao làm giảm chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nguyên nhân khách quan Tín dụng là một trong những yếu tố quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại và đối với toàn bộ nền kinh tế. Để hạn chế RRTD có hiệu quả và đồng bộ đòi hỏi các ngân hàng thương mại cần hiểu rõ các nhân tố khách quan tác động đến nó.