CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Một số khái niệm liên quan 1.1 Khái niệm năng lực sáng tạo NLST được các nhà nghiên cứu nhìn nhận theo nhiều quan điểm khác nhau, hiện tại vẫn chưa có một khái niệm thống nhất. Vì vậy NLST được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau như sau đây: Theo Woodman & cộng sự (1993) NLST là việc tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng, thủ tục hay quy trình mới hữu ích và có giá trị. Ở đây, tác giả nhấn mạnh ba tính chất đó là mới, hữu ích và có giá trị trong khi Amabile chỉ nhắc đến sự mới mẻ và hữu ích. Tuy nhiên, việc hữu ích cũng ngầm liên quan đến giá trị mà NLST có thể mang lại.
Còn theo Oldham & Cummings (1997) thì NLST còn được định nghĩa: Một sản phẩm, ý tưởng hay quy trình có sáng tạo phải thỏa mãn hai điều kiện: (1) Mới mẻ và độc đáo; (2) Có liên quan và hữu ích cho một tổ chức nào đó. Một sản phẩm, ý tưởng hoặc quy trình là mới nếu nó liên quan đến việc tái tổ hợp quan trọng các vật chất sẵn có hoặc giới thiệu vật chất hoàn toàn mới. Trong khi đó tác giả Amabile (2008) định nghĩa NLST là việc tạo ra những ý tưởng mới và hữu ích trong bất cứ một lĩnh vực nào đó. Các lĩnh vực có thể là những hoạt động chung của con người từ khoa học, nghệ thuật, kinh doanh cho đến những hoạt động thường ngày.
Để được xem là sáng tạo, những sản phẩm hoặc ý tưởng phải khác so với những cái đã có trước đó. Ý tưởng sáng tạo không nhất thiết phải mới hoàn toàn nhưng nó cần phải phù hợp với mục tiêu và có giá trị mang lại cho tổ chức doanh nghiệp. Theo Amabile (2012) thì sáng tạo là quá trình tạo ra một kết quả, sản phẩm hoặc giải pháp mới. Kết quả hoặc sản phẩm mới được xem là sáng tạo phải phù hợp với 7 nhiệm vụ cần hoàn thành điều đó nghĩa là nó phải chính xác và có tính khả thi hoặc thực hiện và tiến hành công việc tạo ra giá trị với một mục tiêu cụ thể chi tiết.
Hơn nữa, nhiệm vụ phải là nhiều giải pháp hoặc phương án thay vì chỉ có một giải pháp rõ ràng và duy nhất. Cuối cùng, một giải pháp, kết quả, sản phẩm hay được xem là sáng tạo phải nhận được sự công nhận của nhiều người lao động, nhà lãnh đạo, nhà quản lý hoặc các chuyên gia hoặc những người lao động trong lĩnh vực đã tạo ra và đang thực hiện công việc đó. Định nghĩa này được xem là cơ sở của hầu hết các nghiên cứu về NLST của NLĐ được thực hiện trong thời gian sau này. Tóm lại, NLST chính là việc tạo ra những ý tưởng, sản phẩm, dịch vụ hay một quá trình mới hữu ích và có giá trị.
Tính mới có thể là khác biệt hoàn toàn so với những cái trước đó hoặc cải thiện hơn cái hiện có. Tính hữu ích và có giá trị thể hiện ở việc nó giúp tổ chức giải quyết những vấn đề tồn tại góp phần đạt mục tiêu đề ra và đem lại giá trị cho người sử dụng. Ngoài ra, NLST còn bao gồm việc tìm ra giải pháp, công dụng mới cho một chất liệu hoặc cải thiện quy trình hiện có và phải hữu ích, phù hợp với thực trạng hiện có và có thể áp dụng thực tế để công ty hoặc doanh nghiệp thu được giá trị trong ngắn hạn hoặc dài hạn.2 Các yếu tố của “năng lực sáng tạo” liên quan Tác giả Amabile (1983) đã đề xuất và đưa ra một lý thuyết các yếu tố của NLST tại nơi làm việc, một phần dựa trên mô hình yếu tố của tâm lý học xã hội về NLST mà cô đã xây dựng và thử nghiệm trước đó. NLST đại diện cho một trong những lý thuyết toàn diện có căn cứ đầu tiên về NLST và được hoàn chỉnh vào năm 2012.
Theo đó, những ảnh hưởng đến NLST bao gồm ba yếu tố bên trong: các kỹ năng liên quan (chuyên môn trong lĩnh vực đang làm việc và lĩnh vực liên quan), các quá trình liên quan đến sáng tạo (quá trình nhận thức và tính cách có lợi cho tư duy đổi mới) và động lực nhiệm vụ (cụ thể là động lực nội tại để tham gia vào hoạt động vì hứng thú, thích thú, hoặc ý thức thách thức cá nhân).Và một yếu tố bên ngoài cá nhân là môi trường xã hội – mang hàm ý môi trường được tạo ra bởi văn hóa doanh nghiệp và nhà quản lý (Amabile, 2012). 8 Sáng tạo của NLĐ có thể được định nghĩa là đưa ra các ý tưởng mới và hữu ích của một cá nhân hoặc một nhóm nhỏ các cá nhân làm việc cùng nhau, và đổi mới là việc thực hiện thành công các ý tưởng sáng tạo trong một tổ chức (Amabile, 1996). NLST trong tổ chức được định nghĩa là sự phát triển những ý tưởng về sản phẩm, ứng dụng, dịch vụ hay quá trình phải mới mẻ và có tính hữu ích tiềm năng đối với tổ chức đó. Một ý tưởng được xem là mới nếu nó mang tính độc đáo hơn so với những hiện trạng tồn tại trong tổ chức.
Một ý tưởng được xem là hữu ích khi có tiềm năng mang lại giá trị trực tiếp hoặc gián tiếp cho tổ chức, trong ngắn hạn cũng như dài hạn (Shalley & cộng sự, 2004). NLST của một cá nhân bị thúc đẩy mạnh mẽ nhất bởi sự thích thú, phấn khích trước thách thức của chính công việc đang thưc hiện. Cuối cùng, yếu tố môi trường xã hội bao gồm tất cả các yếu tố bên ngoài đã được chứng minh là làm suy yếu hay kích thích khả năng sáng tạo. “Những nghiên cứu trước đây đã chỉ ra các yếu tố làm giảm khả năng sáng tạo như phê phán gay gắt các ý tưởng mới, sự bất ổn chính trị trong tổ chức, áp lực thời gian quá mức, sự từ chối chấp nhận rủi ro.
Các yếu tố kích thích NLST như những thách thức tích cực từ công việc, sự hợp tác trong tổ chức và văn hóa khuyến khích phát triển ý tưởng mới trong tổ chức” (Amabile, 2012). Tuy nhiên, thúc đẩy năng lực sáng tạo là một thách thức mà các tổ chức đang phải đối mặt hiện nay. Một loạt các yếu tố đã được tìm thấy để kích thích sự sáng tạo ở cấp độ cá nhân và sự đổi mới ở cấp độ tổ chức. Tóm lại, NLST của NLĐ trong tổ chức được hiểu là việc tạo ra những ý tưởng mới, hữu ích của NLĐ trong tổ chức đó.
Những ý tưởng đó nhằm tạo ra sản phẩm dịch vụ, quá trình đổi mới hoặc cải tiến sản phẩm, dịch vụ và quá trình hiện tại từ đó nâng cao doanh thu mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Ngoài ra, năng lực sáng tạo của NLĐ trong tổ chức là một dạng hành vi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố từ bên trong người lao động như kiến thức, kỹ năng, động lực cho đến những yếu tố môi trường bên ngoài như tâm trạng làm việc, sự hài lòng công việc, lòng tự trọng được nhận thức, thay đổi văn hóa, phát triển lãnh đạo… 9 1.2 Các mô hình nghiên cứu sáng tạo người lao động trong và ngoài nước 1.1 Các nghiên cứu tại Việt Nam 1.1 Nghiên cứu của Hà Nam Khánh Giao-Nguyễn Hoàng Vinh (2020) về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo của người lao động trong công việc tại Trường đại học Tài chính - Marketing Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến NLST của NLĐ trong công việc tại trường Đại học Tài chính – Marketing bằng việc khảo sát 250 NLĐ, phương pháp phân tích Cronbach’s Alpha, phân tích EFA cùng với phân tích hồi quy bội được sử dụng với phương tiện SPSS. Kết quả cho thấy mức độ tác động các yếu tố đến NLST của NLĐ giảm dần thứ tự như sau: (1) Phong cách tư duy; (2) Tự chủ trong sáng tạo; (3) Động lực nội tại; (4) Tự chủ trong công việc; (5) Sự hỗ trợ của tổ chức. Nghiên cứu đã đề ra một số hàm ý quản trị giúp nhà trường có chính sách quản trị nguồn nhân lực thích hợp và hiệu quả nhất để phát huy tính sáng tạo trong công việc của NLĐ, nâng cao chất lượng công tác của NLĐ tại trường.
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra mô hình được thể hiện như hình sau: Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo của người lao động trong công việc tại Trường đại học Tài chính - Marketing Nguồn: Hà Nam Khánh Giao-Nguyễn Hoàng Vinh (2020) 10 1.2 Nghiên cứu Nguyễn Đức Duy (2019) về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo của người lao động: “nghiên cứu trường hợp người lao động kinh doanh tại các đại lý ô tô khu vực Thành phố Hồ Chí Minh” Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích phân tích và đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng đến NLST của NLĐ. Cụ thể là NLĐ kinh doanh tại các đại lý ô tô khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, bằng việc khảo sát 320 NLĐ tham gia khảo sát đang làm việc trong thị trường kinh doanh ô tô, phương pháp phân tích Cronbach’s Alpha, phân tích EFA cùng với phân tích hồi quy bội được sử dụng với phương tiện SPSS. Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra 5 yếu tố độc lập có ảnh hưởng trực tiếp đến NLST của NLĐ bao gồm: (1) Động lực nội tại, (2) Tự chủ trong sáng tạo, (3) Tự chủ trong công việc, (4) Sự trao đổi giữa lãnh đạo và người lao đông, (5) Thấu hiểu mục tiêu công việc, đồng thời xác định vai trò trung gian của yếu tố sự gắn kết với công việc. Như vậy trong lĩnh vực kinh doanh ô tô, nhà quản lý có thể tăng khả năng sáng tạo của NLĐ thông qua tác động đến các yếu tố độc lập.
Trong tương lai, các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu nghiên cứu và bổ sung thêm thêm các yếu tố khác ảnh hưởng đến NLST. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra mô hình được thể hiện như hình sau: Hình 1.2 Mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo của người lao động: nghiên cứu trường hợp người lao động kinh doanh tại các đại lý ô tô khu vực Thành phố Hồ Chí Minh Nguồn: Nguyễn Đức Duy (2019) 11 1.3 Nghiên cứu Lê Vũ Phong (2018) về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo người lao động trong các tổ chức công tại Văn phòng Ủy ban nhân dân Tỉnh Cà Mau Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích phân tích và đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng đến NLST của NLĐ.