CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH HỒ CHỨA THỦY LỢI 1.1 Tổng quan về đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp đập, hồ chứa thủy lợi ở Việt Nam Bằng nhiều nguồn vốn, đến nay, Nhà nước và nhân dân đã đầu tư xây dựng được 6.755 đập, hồ chứa thủy lợi các loại với tổng chiều dài đập khoảng 1. Trong đó có 419 đập dâng có chiều cao trên 5m; có 6.336 hồ chứa thủy lợi gồm: 04 hồ quan trọng đặc biệt (Cửa Đạt, Ngàn Trươi, Tả Trạch và Dầu Tiếng) , 864 hồ lớn (131 hồ trên 10 triệu m3, 194 hồ có dung tích từ 3-10 triệu m3, và 544 hồ có dung tích dưới 3 triệu m3 nhưng chiều cao đập trên 15m); 1.511 hồ chứa vừa (313 hồ có dung tích từ 1-3 triệu m3, 636 hồ có dung tích từ 0,5-1 triệu m3 và 562 hồ có chiều cao đập từ 10-15m) và 3.957 hồ chứa nhỏ (1.237 hồ có dung tích từ 0,2-0,5 triệu m3, 2.720 hồ có dung tích dưới 0,2 triệu m3). Các hồ thủy lợi có tổng dung tích trữ khoảng 14,5 tỷ m3 (Bắc Bộ: 2,2 tỷ m3; Bắc Trung bộ 6,0 tỷ m3, Nam Trung bộ 2,35 tỷ m3, Tây Nguyên 1,8 tỷ m3, Đông Nam bộ và Kiên Giang, An Giang 2,15 tỷ m3), tạo nguồn nước tưới cho gần 1,1 triệu ha đất nông nghiệp (Bắc bộ 230.000 ha; Bắc Trung bộ 330.000 ha, Nam Trung bộ 195.000 ha, Tây Nguyên 185.000 ha, Đông Nam bộ và An Giang, Kiên Giang 135.000 ha), cấp khoảng 1,5 tỷ m3 nước cho sinh hoạt, công nghiệp; giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì nhịp độ phát triển của ngành nông nghiệp và của nền kinh tế. Giai đoạn từ năm 2003 đến nay, Chính phủ và các địa phương đã đầu tư trên 49.000 tỷ đồng để xây dựng mới các hồ chứa lớn, tăng khả năng tích trữ nguồn nước phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế xã hội và sửa chữa nâng cấp, đảm bảo an toàn cho các đập, hồ chứa thủy lợi hiện có, cụ thể: Đầu tư khoảng hơn 33.400 tỷ đồng để xây dựng mới các hồ chứa lớn với tổng dung tích tăng thêm 3,91 tỷ m3, góp phần quan trọng trong cắt giảm lũ, hạn chế ngập úng, đảm bảo an toàn cho vùng hạ du.
Từ 2019 đến năm 2020, sẽ tiếp tục đầu tư khoảng 17.600 tỷ đồng để hoàn thành 02 dự án dở dang giai đoạn trước (Hệ thống thủy lợi Tân Mỹ, tỉnh Ninh Thuận và hồ Bản Lải, tỉnh Lạng Sơn, kinh phí 6.966 tỷ đồng) và xây dựng mới các hồ chứa với tổng dung tích tăng thêm khoảng 970 triệu m3. Các hồ chứa lớn 4 được xây dựng đã góp phần quan trọng trong cắt giảm lũ, hạn chế ngập úng, đảm bảo an toàn cho vùng hạ du.000 tỷ đồng để sửa chữa, nâng cấp đảm bảo an toàn cho khoảng hơn 800 hồ chứa nước. Trong đó, các địa phương đã đầu tư gần 10.800 tỷ đồng cho hơn 560 hồ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đầu tư khoảng 5.200 tỷ đồng để nâng cấp 249 hồ chứa (Vốn Trái phiếu Chính phủ khoảng 1.540 tỷ đồng cho 40 hồ; vốn Ngân sách nhà nước khoảng 1.260 tỷ đồng cho 47 hồ; vốn ODA khoảng 1.450 tỷ đồng cho 71 hồ, hỗ trợ các địa phương 950 tỷ đồng xử lý cấp bách cho 93 hồ trong các năm 2013, 2014).
Trong đó, từ nguồn vốn vay ODA (Dự án WB3, WB5, WB7, ADB Tây Nguyên) đã nâng cấp sửa chữa được 71 hồ chứa theo tiêu chuẩn quốc tế (các dự án này đã tập trung sửa chữa các chứa lớn, việc tính toán lũ đã được áp dụng tiêu chuẩn của ICOLD như: Dầu Tiếng, Cấm Sơn, Yên Lập, Kẻ Gỗ, Phú Ninh, Bến Châu, Đồng Nghệ, Hòa Trung, Đá Bàn…). Thời gian tới, Trung ương sẽ tiếp tục hỗ trợ đầu tư, nâng cấp đảm bảo an toàn cho khoảng 541 hồ chứa nước, cụ thể: (i) hoàn thành nâng cấp 02 hồ (hồ Pa Khoang, hồ Xạ Hương) có dung tích trên 10 triệu m3 trong kế hoạch trung hạn 2016-2020 của Bộ Nông nghiệp và PTNT (167 tỷ đồng); (ii) hoàn thành xử lý cấp bách 84 hồ chứa bị ảnh hưởng do lũ bão năm 2017 (500 tỷ đồng); (iii) nâng cấp, sửa chữa 450 hồ chứa đảm bảo an toàn công trình và nâng cấp 5 hồ lớn không đủ khả năng xả lũ trong dự án WB8.2 Một số khái niệm liên quan công tác quản lý vận hành an toàn đập, hồ chứa nước Đập là công trình được xây dựng để dâng nước hoặc cùng các công trình có liên quan tạo hồ chứa nước. Hồ chứa nước là công trình được hình thành bởi đập dâng nước và các công trình có liên quan để tích trữ nước, có nhiệm vụ chính là điều tiết dòng chảy, cắt, giảm lũ, cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, phát điện và cải thiện môi trường; bao gồm hồ chứa thủy lợi và hồ chứa thủy điện. Công trình có liên quan là công trình xả nước, công trình lấy nước, tuyến năng lượng, công trình thông thuyền và công trình cho cá đi.
5 Đập, hồ chứa thủy lợi là đập, hồ chứa nước được xây dựng với mục đích chính là cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt kết hợp cắt, giảm lũ. Chủ sở hữu đập, hồ chứa thủy lợi là cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quyền, trách nhiệm đại diện chủ sở hữu đối với đập, hồ chứa nước sử dụng vốn nhà nước; tổ chức, cá nhân tự đầu tư xây dựng (đập, hồ chứa nước); chủ sở hữu đập, hồ chứa, thủy điện là tổ chức, cá nhân tự đầu tư xây dựng hoặc được chuyển giao sở hữu đập, hồ chứa nước. Chủ quản lý đập, hồ chứa nước thủy lợi là cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các cấp hoặc tổ chức được Nhà nước giao quyền, trách nhiệm đại diện chủ sở hữu; tổ chức thủy lợi cơ sở; tổ chức, cá nhân tự đầu tư xây dựng đập, hồ chứa nước thủy lợi. Tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa nước là tổ chức, cá nhân được giao quản lý, khai thác đập, hồ chứa nước.
Vùng hạ du đập là vùng bị ngập lụt khi hồ xả nước theo quy trình; xả lũ trong tình huống khẩn cấp hoặc vỡ đập. Tình huống khẩn cấp là trường hợp mưa, lũ vượt tần suất thiết kế; động đất vượt tiêu chuẩn thiết kế trên lưu vực hồ chứa nước hoặc tác động khác gây mất an toàn cho đập. Kiểm định an toàn đập là hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng hoặc nguyên nhân hư hỏng, đánh giá an toàn của đập, hồ chứa nước và các công trình có liên quan đến hồ chứa nước thông qua đo đạc, quan trắc, thí nghiệm kết hợp với việc tính toán, phân tích. Hệ thống giám sát vận hành là hệ thống bao gồm thiết bị để kết nối số liệu quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng, tình hình ngập lụt hạ du đập; camera giám sát vận hành công trình và phần mềm hỗ trợ điều hành đập, hồ chứa nước theo diễn biến thực tế.3 Công tác quản lý vận hành an toàn đập đối với hồ chứa thủy lợi ở Việt Nam 1.1 Những mặt đạt được 1.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý an toàn đập cơ bản hoàn thiện Hệ thống văn bản pháp luật về quản lý an toàn đập đã được xây dựng hoàn thiện, đồng bộ tạo hành lang pháp lý để nâng cao hiệu lực quản lý và hiệu quả thực hiện, cụ thể: + Luật Thủy lợi đã được Quốc Hội thông qua ngày 19/6/2017 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018; + Các văn bản như Nghị định 114/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 của Chính phủ về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước; Nghị Định 67/2018/NĐ-CP ngày 14/5/2018 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi; Nghị định 129/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 của Chính phủ về quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác kết cấu hạ tầng thủy lợi; Chỉ thị số 22/CT-Ttg ngày 07/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý, đảm bảo an toàn đập, hồ chứa nước đã được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định trong Luật Thủy lợi và đồng bộ với các quy định tại các văn bản pháp luật khác liên quan đến an toàn đập, như Luật phòng, chống thiên tai; Luật Tài nguyên nước; Luật Xây dựng; Luật Bảo vệ môi trường; Luật Khí tượng Thủy văn.
Hệ thống văn bản quy phạm này đã khắc phục được những tồn tại trong các văn bản pháp quy về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước trước đây như: + Chưa phân định rõ trách nhiệm của chủ đập và chủ quản lý, do vậy chưa rõ trách nhiệm của chủ thể cấp kinh phí và chủ thể thực hiện các nội dung về quản lý an toàn đập (bảo dưỡng sửa chữa thường xuyên, kiểm định an toàn đập, sửa chữa, nâng cấp đập, lập phương án phòng, chống lũ lụt cho vùng hạ du, cắm mốc phạm vi bảo vệ đập,.); + Các quy định về phân công, phân cấp vai trò, trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước giữa các Bộ, ngành và địa phương, về quản lý an toàn đập chưa đầy đủ và rõ ràng; + Các hoạt động về lập quy trình vận hành điều tiết hồ chứa nước, quy định về báo cáo hiện trạng an toàn đập, kiểm định an toàn đập và phương án phòng, chống lũ, lụt cho 7 vùng hạ du trong tình huống xả lũ khẩn cấp và vỡ đập…chưa đáp ứng yêu cầu quản lý. Hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật về quản lý, khai thác đập, hồ chứa thủy lợi cũng đã được rà soát, bổ sung và đang được từng bước hoàn thiện. Công tác phổ biến, tuyên truyền các văn bản pháp luật đã được quan tâm, triển khai. Năm 2018, tổ chức 7 hội nghị phổ biến pháp luật, trong đó có các nội dung về quản lý an toàn đập cho các đối tượng trên phạm vi cả nước.2 Công tác đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp đập, hồ chứa thủy lợi Bằng nhiều nguồn vốn, đến nay, Nhà nước và nhân dân đã đầu tư xây dựng được 6.755 đập, hồ chứa thủy lợi các loại với tổng chiều dài đập khoảng 1.
Trong đó có 419 đập dâng có chiều cao trên 5m; có 6.336 hồ chứa thủy lợi gồm: 04 hồ quan trọng đặc biệt (Cửa Đạt, Ngàn Trươi, Tả Trạch và Dầu Tiếng) , 864 hồ lớn (131 hồ trên 10 triệu m3, 194 hồ có dung tích từ 3-10 triệu m3, và 544 hồ có dung tích dưới 3 triệu m3 nhưng chiều cao đập trên 15m); 1.